Bổn nguyện niệm Phật là gì?

Bổn nguyện niệm Phật thì một là tất cả, cho nên công đức của bổn nguyện rất thù thắng, nhất định không phải nói chỉ căn cứ vào nguyện 18 và không cần 47 nguyện còn lại.

Pháp sư Ngộ Đạo gửi cho tôi một tin nhắn, có đồng tu từ Đại học Khoa học và Kỹ thuật Nam Kinh muốn hỏi: Gần đây có người truyền bá “Bổn nguyện niệm Phật” không căn cứ theo Tịnh Độ Tam Kinh, chỉ cần tin là có thể được vãng sanh, không cần phát nguyện, cũng không cần niệm Phật khiến những người chưa thâm nhập Tịnh Tông sau khi nghe rồi nghi hoặc chồng chất, cung thỉnh Sư phụ từ bi khai thị. Đây thật sự là một vấn đề rất nghiêm túc. Vấn đề này nếu giải thích sai thì sẽ hướng dẫn sai rất nhiều đồng tu bỏ lỡ cơ hội niệm Phật vãng sanh của cả đời. Người truyền bá những lời này phải chịu trách nhiệm nhân quả, trong kinh Phật nói nhất định đọa địa ngục A-tỳ.

“Bổn nguyện niệm Phật” không sai nhưng họ đã hoàn toàn giải thích sai ý nghĩa. Đức Phật trước khi nhập diệt hiểu rất rõ ràng rất minh bạch hiện trạng xã hội hiện nay của chúng ta. Mọi người thấy trong pháp hội Lăng Nghiêm có đoạn kinh văn “Thanh tịnh minh hối”, Phật nói “Tà sư thuyết pháp như cát sông Hằng”. Trong kinh nói chính là thời đại chúng ta hiện nay, pháp nhược ma cường, chúng sanh nhận giả không nhận thật, thích nghe gạt chứ không thích nghe khuyên.

Các bạn đồng học Tịnh Tông chúng ta nhất định phải học tập theo Đức Phật, Phật có tâm nhẫn nại chờ đợi những người này. Tôi cảm thấy đồng học chúng ta có rất nhiều người còn nhiệt tình hơn cả Phật, nóng lòng muốn độ tất cả chúng sanh này về thế giới Tây Phương Cực Lạc, thế nhưng quay đầu nghiêm túc phản tỉnh lại xem bản thân có thể vãng sanh không? Chính mình chưa thể đắc độ mà muốn độ người khác, điều này trong kinh Phật thường nói là “không có việc như thế”.

Mọi người thường nghe nói, nghe đến mức quen tai câu “Phật không độ người không có duyên”. Chúng ta cần phải hiểu được, họ không có duyên với Phật, không có duyên tức là không tin, không tin tưởng kinh văn trong ba kinh, không thể y giáo phụng hành mà nghe theo người khác nói lời này thì đó chính là không có duyên với Phật. Cuộc đời này của họ nhất định không thể thành tựu.

Nói về bổn nguyện, bổn nguyện là gì vậy? Đó chính là bốn mươi tám nguyện, sau khi Tịnh Tông của chúng ta thành lập thì chính là căn cứ vào bổn nguyện niệm Phật. Các bạn xem thời khóa sáng của chúng tôi, khóa tụng của Tịnh Tông là khóa sáng tụng bốn mươi tám nguyện, thời khóa tối là sám trừ nghiệp chướng, nghiệp chướng nếu không sám trừ thì nhất định không thể vãng sanh.

Pháp môn này tuy nói là đới nghiệp vãng sanh, nhưng từ xưa đến nay Tổ sư Đại đức đã nói rất nhiều “chỉ mang nghiệp cũ, không mang nghiệp hiện tại”. Những nghiệp bạn hiện nay đang tạo thì không thể mang đi được, đới nghiệp là đem theo nghiệp của quá khứ. Quá khứ đã sai rồi, không sao, ngày nay sửa đổi trở lại gọi là “Bất luận quá khứ, chỉ luận hiện hành”. Đây là nguyên tắc nguyên lý đới nghiệp vãng sanh. Hiện nay vẫn còn muốn tạo nghiệp thì không thể vãng sanh, đạo lý này nhất định phải hiểu.

Nói về bổn nguyện, có người nói bổn nguyện chính là nguyện thứ mười tám. Thế nhưng người thông thường vẫn chưa thâm giải nghĩa thú, trong nguyện thứ mười tám đã hàm nhiếp viên mãn bốn mươi bảy nguyện còn lại, bốn mươi bảy nguyện này mà thiếu một nguyện thì nguyện thứ mười tám sẽ không viên mãn.

Vị Đại đức truyền bá “Bổn nguyện niệm Phật” này liệu có hiểu đạo lý này không? Bất cứ nguyện nào trong bốn mươi tám nguyện đều hàm nhiếp viên mãn bốn mươi bảy nguyện kia, nguyện nào cũng như vậy.

Chúng ta tuy rằng chưa giảng xong Kinh Hoa Nghiêm nhưng mọi người cũng đã nghe không ít. Kinh Hoa Nghiêm nói “Một tức là nhiều, nhiều tức là một, một và nhiều chẳng hai”, “Một là tất cả, tất cả là một”, họ hiểu được không? “Bổn nguyện niệm Phật” thì “một là tất cả”, cho nên công đức của bổn nguyện rất thù thắng, nhất định không phải nói chỉ căn cứ vào nguyện thứ mười tám và không cần bốn mươi bảy nguyện còn lại. Nếu vậy thì nguyện thứ mười tám cũng rỗng không rồi, không còn nữa. Nguyện thứ mười tám là gì vậy? Là cương lĩnh chung của bốn mươi bảy nguyện còn lại. Chỉ dựa vào một niệm thứ mười tám thì là ma thuyết pháp không phải Phật thuyết pháp.

Trước khi diệt độ Thế Tôn dạy chúng ta dựa vào “Tứ y pháp”. Điều đầu tiên trong “Tứ y pháp” là “Y pháp bất y nhân”. Pháp là gì vậy? Bộ kinh số một của Tịnh Tông là Kinh Vô Lượng Thọ. Thời Đông Tấn, Huệ Viễn Đại sư xây dựng đạo tràng niệm Phật đầu tiên ở Lô sơn gọi là Niệm Phật Đường Đông Lâm, đồng tu chí đồng đạo hợp có một trăm hai mươi ba người. Thời kỳ đó kinh điển Tịnh Tông chỉ có một bộ, đó là Kinh Vô Lượng Thọ, còn những kinh khác vẫn chưa được biên dịch. Đạo tràng của Viễn công ở Lô sơn có nhiều người như vậy chỉ căn cứ vào Kinh Vô Lượng Thọ mà một trăm hai mươi ba người này đều được vãng sanh. Đạo tràng này trang nghiêm thù thắng vô cùng, chúng ta cần đi theo con đường của người xưa, kế thừa người xưa.

Người thời nay đều biết vào cuối thời nhà Thanh đầu thời Dân quốc có lão Pháp sư Ấn Quang, rất nhiều đồng tu đều biết đó là Đại Thế Chí Bồ-tát ở thế giới Tây Phương Cực Lạc hóa thân tái lai. Tuy rằng chúng ta chưa gặp lão Pháp sư nhưng Văn Sao của Ngài lưu truyền trên thế gian này, chúng ta cần cẩn thận đọc tụng, y giáo phụng hành. Con đường hôm nay chúng ta đang đi là kế thừa từ Ấn Quang Đại sư. Lão sư của chúng tôi, lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam là học trò của Ấn Quang Đại sư, Ngài một đời phụng hành giáo huấn của thầy mình. Tôi thân cận Ngài mười năm, Ngài khiêm tốn không nhận là thầy của tôi mà Ngài giới thiệu cho tôi một vị lão sư, vị thầy đó là ai vậy? Đó chính là lão sư của Ngài, Ấn Quang Đại sư. Từ đó có thể biết rằng, người chân thật có đức hạnh, có học vấn sẽ rất khiêm tốn. Ngài dạy tôi cần chăm chỉ phát tâm đọc tụng Văn Sao, y giáo phụng hành, như vậy chính là đệ tử của Ấn Quang Đại sư.

Tôi khuyên bảo đồng tu khắp mọi nơi dựa vào Kinh Vô Lượng Thọ, trực tiếp chắc chắn làm đệ tử của A Di Đà Phật. Lão cư sĩ Hạ Liên Cư, người hội tập Kinh Vô Lượng Thọ, nếu không phải là A Di Đà Phật thì chắc chắn là Quán Thế Âm Bồ-tát tái lai. Nếu không phải là Phật tái lai thì bộ kinh này nhất định không thể hội tập hoàn mỹ như vậy.

Chúng ta biết thời Tống, cư sĩ Vương Long Thư hội tập lần thứ nhất, Ngụy Mặc Thâm đời nhà Thanh hội tập lần thứ hai nhưng đều không viên mãn. Đó đều là Đại đức trong nhà Phật chúng ta. Thời kỳ mạt pháp đích thực có sự cần thiết của việc hội tập nên cảm động Phật Bồ-tát thị hiện, các bạn không tin nhưng tôi thì tin. Tin tưởng sẽ được lợi ích. Mười mấy năm gần đây, căn cứ vào giáo huấn của bộ kinh này tu hành, chúng tôi thấy rất nhiều người vãng sanh có tướng lành hy hữu, nghe nói lại càng nhiều hơn. Bạn không tin tưởng mà nghe lời của người khác vậy thì còn có cách nào chứ?

Ngày nay thời đại dân chủ, tự do, mở cửa này, không ai có thể can thiệp vào chuyện người khác, chỉ còn xem duyên phận sâu hay cạn của chúng ta với Phật và A Di Đà Phật mà thôi. Chúng ta đọc bản hội tập của Hạ lão cư sĩ, không cần thiết phải hỏi Hạ lão cư sĩ là người thế nào, mà hãy xem bản hội tập của Ngài có như pháp không? Lòng tin của chúng ta xây dựng từ đây, không phải là mê tín, không phải là mù quáng. Cho nên tôi mang năm bản dịch gốc của Kinh Vô Lượng Thọ và bốn bản hiệu đính in thành một một quyển. Tôi đặt tên sách là “Tịnh Độ Ngũ Kinh Độc Bổn”, đã lần lượt in khoảng hai đến ba vạn quyển rồi. Các đồng tu đều đã nhìn thấy, bạn có thể tự mình xem, tự mình so sánh, để bạn xây dựng lòng tin kiên định từ chỗ này. Sau đó bạn lại tỉ mỉ quan sát người niệm Phật vãng sanh, người căn cứ vào “Bổn nguyện niệm Phật” được vãng sanh có bao nhiêu người, có thoại tướng như thế nào?

Kinh Vô Lượng Thọ đã nói rất rõ ràng điều kiện cơ bản của “Tam bối vãng sanh” là “phát Bồ-đề tâm, nhất hướng chuyên niệm”, làm gì có ai không phát nguyện mà có thể vãng sanh, không có đạo lý này. Không phát nguyện mà niệm Phật, người xưa từng nói: cho dù một ngày niệm mười vạn câu Phật hiệu mà không phát nguyện thì đau mồm, rát họng cũng uổng công, tại vì sao vậy? Là vì bạn không muốn vãng sanh. Cầu nguyện vãng sanh, buông xuống vạn duyên thì cái tâm này là tâm Bồ-đề.

Ngẫu Ích Đại sư trong Yếu Giải nói với chúng ta, chúng ta vãng sanh muốn nâng cao phẩm vị thì bạn nhất định phải tâm như tâm Phật, nguyện như nguyện Phật, hành vi phải như hành vi của Phật thì phẩm vị của bạn mới có thể cao được. Nếu tâm không giống tâm A Di Đà Phật, nguyện cũng không giống nguyện của A Di Đà Phật, hành vi cũng không giống A Di Đà Phật thì tuy bạn vãng sanh nhưng phẩm vị rất thấp, huống hồ bạn căn bản không thể vãng sanh.

Chúng ta cần phải ghi nhớ thật kỹ, trong Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, phu nhân Vi-đề-hi cầu sanh Tịnh Độ, bà thỉnh giáo với Thích Ca Mâu Ni Phật cần phải tu học như thế nào mới có thể vãng sanh thế giới Cực Lạc? Thích Ca Mâu Ni Phật trước khi giảng giải cho bà phương pháp tu học thì nói rõ cho bà “Tịnh Nghiệp Tam Phước”, điều này rõ ràng là nói cho chúng ta đây là “Ba đời chư Phật đều lấy tịnh nghiệp làm chánh nhân”. Nói cách khác là Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật tương lai, hết thảy những người tu hành thành Phật đều được kiến lập trên nền tảng này. Nếu không có nền tảng này thì cho dù dụng công tu hành thế nào cũng không thể thành tựu được. Việc này giống như xây nhà, đây là nền móng. Hai câu đầu tiên trong nền tảng này là “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sư trưởng”, chúng ta gọi là “Hiếu thân tôn sư”, đây là nền tảng.

Người người ở Thế giới Tây Phương Cực Lạc đều là đại hiếu tử, đều là học trò tốt nhất của lão sư. Kinh Vô Lượng Thọ có câu “đệ tử bậc nhất của Như Lai”, chứ đâu có cách nói như vậy, điều này hoàn toàn sai lầm. Người có đầu óc tỉnh táo một chút đều có thể phân biệt được, nếu ngay đến điều nay cũng không thể phân biệt được thì chúng ta học Phật uổng công rồi, bạn nghe Kinh nhiều năm như vậy cũng là uổng công thôi.

“Tịnh nghiệp tam phước” chính là Phật hạnh, là hành vi của chư Phật Như Lai, thực hiện vào trong cuộc sống là Tam Phước, Lục Hòa, Tam Học, Lục Độ, Thập Nguyện, đây là hành trì của Phật. Chúng ta đã làm được chưa? Khởi tâm động niệm, ngôn ngữ việc làm, tôi thường khuyên các đồng tu cần phải đối chiếu với năm khoa mục này. Nếu tương ứng thì hành vi của bạn là chánh hạnh, nếu không tương ứng thì hành vi của bạn là tà hạnh, tà hạnh không thể vãng sanh. Cho nên các đồng học Tịnh Tông, chúng tôi viết năm khoa mục này trong quy tắc tu hành của chúng ta. Chúng tôi làm một cuốn sổ tay, trong cuộc sống hằng ngày, trong làm việc xử sự đối người tiếp vật chúng ta nhất định phải tuân thủ nguyên tắc, nhất định không thể làm trái. Nếu làm trái thì niệm Phật phát nguyện vẫn không thể vãng sanh, vì sao vậy? Vì nguyện của bạn là giả, là rỗng không, không phù hợp với thực tế. Khi chúng ta phát nguyện hồi hướng, bạn lấy gì để hồi hướng? Là miệng nói suông để hồi hướng, không có tác dụng, bạn cần có thực chất để lấy ra hồi hướng, thực chất là gì vậy? Thực chất là tu hành chứng quả, đoạn ác tu thiện, chuyển mê thành ngộ. Đây là công đức tu hành chân thật của chính mình, tôi dùng công đức này để hồi hướng.

Ngày nay bạn không phát nguyện cũng không niệm Phật thì bạn làm thế nào có thể vãng sanh? Các bạn đồng học Tịnh Tông nghe rồi thì nghi vấn rất nhiều, những người này thật là vô tri, ngu muội và đáng thương. Giống như năm xưa cư sĩ Trần Kiện Dân ở Mỹ tuyên bố trên thế giới là đới nghiệp không thể vãng sanh, khiến cho người niệm Phật trên toàn thế giới hoang mang lo lắng. Đó là ma, không phải là Phật.

Khi tôi đến Mỹ thì ngay đến một cư sĩ có tuổi tác như Chu Tuyên Đức tín tâm cũng bị lung lay. Tôi đến Los Angeles, ông đón tôi ở sân bay, vừa gặp mặt liền hỏi tôi: “Pháp sư, hiện nay có người nói đới nghiệp không thể vãng sanh, cần phải tiêu nghiệp mới có thể vãng sanh, vậy phải làm thế nào đây?” Khi đó tôi liền nói với ông ấy: “Không vãng sanh thì thôi vậy”, ông nghe tôi nói như vậy thì vô cùng ngỡ ngàng. Tôi thấy dáng vẻ của ông như vậy, đứng ngây ra ở đó mà không nói được câu nào, tôi liền nói với ông: “Nếu như không đới nghiệp thì thế giới Tây Phương Cực Lạc chỉ có một mình A Di Đà Phật, vậy thì ông đến đó làm gì?”. Nhưng ông ấy vẫn nghe chưa hiểu, tôi lại nói với ông: “Quán Thế Âm Bồ-tát, Đại Thế Chí Bồ-tát, Đẳng Giác Bồ-tát vẫn còn một phẩm sanh tướng vô minh chưa phá, đó có phải gọi là đới nghiệp hay không?”. Ông mới tỉnh ngộ ra.

Quán Thế Âm Bồ-tát và Đại Thế Chí Bồ-tát đều là đới nghiệp, nếu không đới nghiệp thì chỉ có một mình A Di Đà Phật. Kinh không nói đới nghiệp vãng sanh, tôi hỏi ông: “Trong kinh có nói tứ độ, tam bối, cửu phẩm không?” Ông ấy nói: “Có”. Nếu không đới nghiệp thì mọi người đều bình đẳng, đâu có tam bối cửu phẩm? Điều này chính Phật dạy chúng ta “Y nghĩa bất y ngữ”, tuy Phật không nói câu “Đới nghiệp vãng sanh” nhưng nói cho bạn “Tam bối, tứ độ, cửu phẩm” thì ý nghĩa đới nghiệp đã viên mãn rồi. Nếu bạn đới nghiệp nhiều thì phẩm vị của bạn thấp, bạn đới nghiệp ít thì phẩm vị của bạn cao, đâu có đạo lý không thể đới nghiệp chứ.

Người học Phật cần khai trí huệ, làm sao có thể nghe vài ba câu của người khác khiến cho tín tâm dao động, mê hoặc điên đảo, bạn nói xem người này có đáng thương hay không? Niệm Phật cả đời đã bảy, tám mươi tuổi rồi, nghe tin đồn nhảm của người khác mà tín tâm vẫn bị dao động, thật quá đáng thương. Cho nên Phật dạy chúng ta “Y pháp bất y nhân”, pháp là kinh điển.

Ngày nay kinh điển của Tịnh Tông là năm kinh một luận, chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa của câu “Y nghĩa bất y ngữ”. “Bổn nguyện niệm Phật” có sai không? Không sai. Cái gì là bổn nguyện? Năm kinh một luận là bổn nguyện, bốn mươi tám nguyện là bổn nguyện của A Di Đà Phật nên không được phép rút một nguyện nào từ trong đó ra, điều đó không thể được. Nếu từ trong đó chọn ra một câu bất kỳ thì bạn cần phải hiểu “một tức là tất cả”, một câu chính là toàn bộ của năm kinh một luận, điều này có thể được. Bạn có công phu này thì được nhưng nếu không có công phu này thì hãy ngoan ngoãn thật thà học tập theo trình tự thì bạn mới có thể thành tựu. Phàm là không như Pháp, giải sai ý nghĩa của “Bổn nguyện niệm Phật” thì đó đều là ma, ma sợ bạn một đời này thành tựu nên nhanh chóng kéo bạn trở lại để đưa bạn vào địa ngục A-tỳ, như vậy họ mới vui vẻ.

Trích đoạn trong:
THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN
Người giảng: Lão Hòa Thượng – Pháp Sư Tịnh Không
Tập 95

Có thể bạn quan tâm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phật Pháp không có Bản Quyền, mọi sự sao chép từ Pháp Vi Diệu đều được hoan nghênh!