Một vọng niệm chính là một nghiệp nhân

Một vọng niệm chính là một nghiệp nhân. Nghiệp nhân gặp được duyên thì quả báo liền hiện tiền. Thiện niệm thì có thiện báo; ác niệm nhất định cảm đến ác báo.

Cổ đức nói với chúng ta, người phàm có quá nhiều vọng tưởng. Các vọng tưởng có thể phân làm ba loại là vọng tưởng quá khứ, vọng tưởng hiện tại và vọng tưởng vị lai. Thường thường nghĩ đến quá khứ, vinh nhục của quá khứ, những ân oán quá khứ đã kết với mọi người, buồn vui tan hợp. Loại này là thuộc về vọng tưởng quá khứ. Những người cao tuổi luôn nghĩ đến những sự việc thời còn trẻ của họ, cứ nghĩ đi nghĩ lại nghĩ mãi không dứt. Đây là thuộc về vọng tưởng quá khứ. Có những sự việc ở trước mắt, hoặc là phải làm, hoặc là không nên làm, luôn luôn do dự, không quyết định. Loại này là thuộc về vọng tưởng của hiện tại. Loại thứ ba là nghĩ đến tương lai. Những sự việc của tương lai là những việc trên thực tế chưa thể chắc chắn. Có những việc không thể có, nhưng họ vẫn cứ nghĩ, hoặc là nghĩ về tiền của, địa vị, quyền thế. Loại này thuộc về vọng tưởng vị lai.

Ba loại vọng tưởng này là vô lượng vô biên, niệm niệm không hề gián đoạn, vọng niệm này tiếp nối vọng niệm kia. Chúng ta không thể xem thường những vọng niệm này, cho rằng những vọng niệm này không quan trọng, vậy thì ta sai rồi. Một vọng niệm chính là một nghiệp nhân. Nghiệp nhân gặp được duyên thì quả báo liền hiện tiền. Thiện niệm thì có thiện báo; ác niệm nhất định cảm đến ác báo. Quả báo thiện ác không sai chạy một mảy may, đây chính là căn nguyên của kiết hung họa phước mà thiên văn chương này đã nói. Thánh Hiền thế xuất thế gian thường dạy bảo chúng ta, chúng ta phải nên ghi nhớ, phải nên suy nghĩ sâu, phải nên gắng thực hiện. Trong Vựng Biên có nêu ra một câu chuyện, câu chuyện này trong Liễu Phàm Tứ Huấn cũng có. Đời nhà Tống có một người tên Vệ Trọng Đạt, câu chuyện của người này lưu truyền rất rộng, không chỉ rất nhiều người thời đó biết được, do lưu truyền ghi chép ở trong sách mà người đời sau biết được cũng rất nhiều. Năm đó ông nhậm chức ở Hàn Lâm Viện, có một hôm bị vua Diêm La bắt đi. Sự việc này người thời nay nghe qua dường như là thần thoại, rất khó khiến cho người ta tin, nhưng kỳ thực, sự việc này là thật.

Tôi nhớ lúc nhỏ cũng gặp một sự việc, tôi ghi nhớ rất rõ ràng, quê hương chúng tôi là một thành thị nhỏ. Thành thị này là thành cổ, xây dựng từ thời nhà Hán đến ngày nay đã có hai ngàn năm lịch sử. Lúc nhỏ, tôi có một khoảng thời gian ngắn ở dưới quê, cách xa thành thị đến hai mươi lăm dặm đường. Lúc đó muốn lên thành thị thì phải đi bộ, đại khái phải đi hơn hai giờ, cũng không xem là quá xa. Tôi ở nhà của bà ngoại. Cách nhà ngoại tôi đại khái khoảng một hay hai căn, có một người bị bệnh rất nặng. Người bệnh đó nói: “Thành Hoàng muốn tôi đi làm việc”. Người ta hỏi: “Thành Hoàng muốn ông đi làm việc gì?” Ông nói: “Đi gánh đồ”. Hỏi: “Vì sao phải gánh đồ?” Ông nói: “Thành Hoàng lão gia muốn dọn nhà, bắt rất nhiều người đi gánh đồ, và muốn bắt tôi đi”. Người nhà hỏi: “Vậy thì phải làm sao?” Ông nói: “Các người có thể đốt giấy tiền vàng bạc cho tôi, để tôi đi thuê người khác làm, vậy thì tôi không phải đi nữa”. Người trong nhà liền đốt giấy tiền vàng bạc, rất nhiều người giấy, ngựa giấy. Sau khi ông đi thuê người làm xong, bệnh của ông liền khỏi. Chúng tôi nghe rồi liền cảm thấy rất kỳ lạ, tại sao Thành Hoàng lại muốn dọn nhà? Sau đó ba ngày, miếu Thành Hoàng đã bị quân đội chiếm đóng. Quân đội lấy miếu Thành Hoàng làm doanh trại, những bức tượng bên trong miếu đều bị phá hủy. Lúc này tôi mới hiểu ra, khi miếu Thành Hoàng bị quân đội chiếm lấy thì Thành Hoàng lão gia đã dọn nhà đi ba ngày trước rồi. Đây là sự thật mà chúng tôi chính mắt nhìn thấy. Cho nên, “ngẩng đầu ba thước có thần minh”, cho dù ta tin hay không tin, bạn tin thì có, bạn không tin thì vẫn là có. Người hiện nay không đọc sách Thánh Hiền, không tin tưởng những lời khuyên dạy chân thành. Những sự việc chính mắt tôi nhìn thấy rất nhiều, cho nên đối với những điển tích ghi chép của người xưa, tôi đều tin sâu, không nghi. Những tiểu thuyết thần thoại như Liêu Trai Chí Dị, Duyệt Vi Thảo Đường Bút Ký, Tử Bất Ngữ, những loại này tuyệt đại đa số là sự thật, không phải là bịa đặt vô căn cứ, không phải là chuyện ngụ ngôn.

Vệ Trọng Đạt bị Diêm Vương bắt đi. Sau khi ông bị bắt đi, phán quan liền điều tra việc thiện ác mà cả đời ông đã tạo. Kết quả là những việc ác mà ông đã tạo chất đầy một đống to như núi. Sổ ghi việc ác thì chất cao như núi, còn việc thiện thì chỉ có một quyển nhỏ, nói cách khác, cả đời ông chỉ tạo một việc thiện. Sau khi nhìn thấy, ông liền nói với phán quan: “Tôi vẫn chưa đến 40 tuổi, làm gì mà tôi đã tạo nhiều việc ác đến như vậy chứ?”. Phán quan liền nói với ông: “Những việc tạo tác này là khởi tâm động niệm của ông. Ông khởi lên một ác niệm thì trong âm tào địa phủ liền có hồ sơ dữ liệu lưu giữ ở đó, chẳng phải đợi ông tạo tác. Nếu ông tạo tác thì tội ông càng nặng, càng sâu. Khởi lên một niệm ác liền lưu lại một dữ kiện rồi”. Ông liền hỏi: “Vậy một ý niệm thiện của tôi, đó là gì?”. So sánh việc thiện ác của ông trước đây, xem thấy ác niệm nhiều đến như vậy, vua Diêm La rất tức giận. Sau đó Diêm Vương nói: “Mang cân đến đây để cân thử”. Khi vừa cân lên, lỗi lầm của ông nhiều đến như vậy mà lại nhẹ; còn một quyển việc thiện của ông thì lại nặng. Vua Diêm La liền rất hoan hỷ. Ông liền hỏi Diêm Vương: “Việc thiện đó của tôi, rốt cuộc là việc thiện gì vậy?”. Diêm Vương nói: “Lúc trước Hoàng đế muốn xây dựng một công trình, nhưng công trình này có thể không cần phải làm, hao người tốn của. Ông đã dâng lên một tờ tấu sớ, khuyên Hoàng đế không nên làm. Đây là do ông dụng tâm chân thành, thật tâm dâng lên tấu sớ này”. Vệ Trọng Đạt nói: “Nhưng Hoàng đế không nghe”. Diêm vương nói: “Nếu như Hoàng đế nghe theo thì phước báo của ông còn lớn hơn nữa. Hoàng đế không nghe, nhưng ông chân thành, ông có cái ý niệm này. Một việc thiện này đã đè xuống được rất nhiều việc ác của ông”.

Câu chuyện này rất đáng để chúng ta phản tỉnh. Diêm vương nói với ông, bởi vì điều ác của ông đã tạo quá nhiều, nên tiền đồ của ông có chướng ngại. Vốn dĩ trong số mệnh ông làm đến Tể tướng, nhưng nay ông không có phần Tể tướng nữa. Ông chỉ làm đến Lại bộ Thượng thư. Lại bộ Thượng thư tương đương với bây giờ là Bộ trưởng Bộ Nội vụ, vậy là bị giáng xuống một cấp.

Cho nên tạo tác thiện ác, chúng ta thường gọi là ba nghiệp. Chúng ta từ sớm đến tối, thân ngữ ý đều đang tạo nghiệp. Động tác của thân thể, lời nói từ trong miệng, ý niệm trong lòng, nếu tương ưng với Thập Thiện thì là thiện, trái nghịch với Thập Thiện thì là ác. Đây là tiêu chuẩn lớn, còn những việc nhỏ thì nhiều không kể xiết. Giới luật oai nghi ở trong Phật pháp, thực tế mà nói, hiện nay không có người nào làm được. Liên Trì Đại sư thời nhà Minh, Ngẫu Ích Đại sư cực lực đề xướng Sa-di Luật Nghi, đây là đã đem tiêu chuẩn của thiện hạ xuống thấp rồi. Chúng ta có thể làm được mười giới điều, hai mươi bốn môn oai nghi của Sa-di Luật Nghi thì ta chính là đệ tử chân chính của Phật. Thế nhưng ngày nay, đời sống vật chất nâng cao, quan niệm đạo đức bị xuống thấp, nên mười giới, hai mươi bốn môn oai nghi đều không làm được.

Cho nên Pháp sư Hoằng Nhất, các vị đều biết, cả đời phụng trì Ngũ Giới, Thập Thiện. Đối với người, Ngài tự xưng là xuất gia Ưu-bà-tắc. Con người này có đức hạnh, cả đời làm một người đoan chánh, phải làm cho được danh xứng với thực. Tỳ-kheo là giả, không phải là thật, Ngài không làm được Tỳ-kheo chân thật. Cho nên, làm một cư sĩ xuất gia thì có thể làm được, thọ trì Ngũ Giới, Thập Thiện, vậy thì danh xứng với thực. Kỳ thực, dùng danh xưng xuất gia Ưu-bà-tắc không phải bắt đầu từ Hoằng Nhất Đại sư. Chúng ta xem thấy ở trong sách, dùng cái danh phận này là Ngài Thành Thời, học trò của Ngẫu Ích Đại sư. Ngẫu Ích Đại sư tu hành rất chăm chỉ. Sau khi thọ xong Tam Đàn đại giới, Ngài xả đi giới Tỳ-kheo. Vì sao Ngài xả bỏ giới Tỳ-kheo? Ngài đích thực làm không được giới Tỳ-kheo, hơn nữa sự truyền thừa của giới Tỳ-kheo không như pháp, nghĩa là không thể đắc giới Tỳ-kheo. Cho nên Ngẫu Ích đại sư nói, Trung Quốc từ sau thời Nam Tống không có Tỳ-kheo nữa, đến cuối đời nhà Minh thì làm sao có thể đắc giới Tỳ-kheo chứ? Đây là hữu danh vô thực. Vì vậy, sau khi thọ giới rồi thì Ngài thoái giới. Ngài tự mình cả đời phụng trì Bồ-tát giới, Sa-di giới, tự mình xưng là Sa-di Bồ-tát giới, việc này có thể làm được.

Lão sư đã xưng là Sa-di, nên học trò không dám xưng Sa-di, Thành Thời là đồ đệ của Ngài, tự xưng là xuất gia Ưu-bà-tắc. Việc xưng là xuất gia Ưu-bà-tắc, tôi xem trong sách thì Thành Thời là người đầu tiên, gần đây xem thấy Hoằng Nhất đại sư cũng dùng cách xưng hô này. Danh xứng với thực!

Chúng ta ở thời đại này tu hành, có thể thật sự làm được Ngũ Giới, Thập Thiện, lão thật niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ thì nhất định được vãng sanh. Người muốn sanh Tịnh Độ rất nhiều, nhưng tại sao đi không được? Đi không được đương nhiên là vì có chướng ngại. Chướng ngại gì? Không buông bỏ duyên đời! Điều này rất quan trọng. Phàm là người chân thật cầu vãng sanh thì phải buông bỏ tất cả, quyết định không tiêm nhiễm. Chúng ta ở thế gian này, nếu như chính mình có duyên phận, có thể thay xã hội, thay đại chúng làm một chút việc tốt thì tận sức mà làm, rộng kết thiện duyên. Rộng kết thiện duyên ở trong Phật pháp thì các vị xem Hư Vân lão Hòa Thượng thời cận đại, mọi người chúng ta đều rất quen thuộc. Lão Hòa Thượng dùng pháp duyên của Ngài, dùng sức ảnh hưởng của Ngài, xây dựng đạo tràng khắp nơi, giúp đỡ người xuất gia trẻ tu hành. Sau khi xây xong đạo tràng thì Ngài liền giao lại, sau đó thì không hề hỏi đến nữa. Đây là tu đại phước báo, chúng ta phải nên học tập.

Sức ảnh hưởng của chúng tôi không thể so sánh với lão Hòa Thượng, sức ảnh hưởng còn yếu kém. Chúng tôi khuyên bảo rất nhiều vị đồng tu có năng lực thì phát tâm xây dựng đạo tràng loại nhỏ. Tịnh Tông Học Hội ngày nay trên toàn thế giới cũng có năm, sáu mươi cái. Mỗi Tịnh Tông Học Hội đều độc lập. Chúng ta dùng sức ảnh hưởng của mình thúc đẩy tới thành công. Sau khi thành tựu rồi thì có còn hỏi đến nữa hay không? Không hỏi nữa. Nếu như ta còn muốn hỏi qua, nghĩa là ta vẫn còn bận tâm, vậy thì không thể vãng sanh. Phải buông bỏ triệt để, thân tâm thế giới một mảy trần không nhiễm thì chúng ta nhất định nắm chắc phần vãng sanh, điều này rất quan trọng. Cho nên, có thể vãng sanh hay không vẫn là ở chính nơi mình, không phải ở bên ngoài. Quyết không thể tiêm nhiễm danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần.

Phật ở trong kinh nói rất hay: “Tài- sắc- danh- thực- thùy là năm cái gốc của địa ngục”. Còn vướng một điều thì ta không thể tránh khỏi địa ngục, ta làm sao có thể vãng sanh? Điều này phải nghiêm túc ghi nhớ, không thể tham trước. Cả đời nên tùy duyên chứ không phan duyên. Tùy duyên hoan hỷ, cái gì cũng tốt, mỗi ngày ăn được no, mặc được ấm, một lòng hướng đạo.

Tôi cả đời chính là làm việc này, giảng kinh thuyết pháp, hoằng pháp lợi sanh, tất cả cái khác đều không hỏi, cả đời không có đạo tràng, cả đời không có đồ chúng. Ngày trước, những người xuất gia là Hàn Quán Trưởng thu nhận, không phải tôi thu nhận; đặt pháp danh, đều là Hàn Quán Trưởng đặt, không phải là tôi đặt. Mong muốn mọi người cố gắng tu học, tôi bây giờ tuổi tác đã lớn rồi, người xưa nói là đến lúc phải nên chết rồi, “bảy mươi ba, tám mươi bốn, Diêm Vương không mời cũng tự mình đi”, còn có cái gì đáng lưu luyến đâu chứ? Cả đời tôi không quản người, không quản việc, không quản tiền, đến lúc già rồi vẫn còn quản thì quá đỗi sai lầm. Buông bỏ tất cả thân tâm thế giới, sống một ngày thì vì Phật Bồ-tát mà làm việc một ngày.

Trích trong:
THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN
Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Tập 4

Có thể bạn quan tâm

Phật Pháp không có Bản Quyền, mọi sự sao chép từ Pháp Vi Diệu đều được hoan nghênh!