Phô bày chuyện xấu của người khác là ác

Phô bày chuyện xấu, bới móc chuyện riêng tư của người khác, chúng ta phải thường xuyên ghi nhớ, nhất định không được phạm phải.

Xin mời xem Cảm Ứng Thiên đoạn thứ 66: “Hình nhân chi xú, yết nhân chi tư.” (Phô bày những điều xấu của người khác. Rêu rao chuyện riêng tư của người).

Trong chú giải của sách Vựng Biên đoạn đầu tiên nói rất hay: “Đối với hạnh xấu của kẻ khác, gọi là nói ra sẽ khiến cho người ta bị nhục nhã, chớ nên để người khác nghe thấy, người lại phô bày, bộc lộ, ắt lòng đôn hậu bị tổn thương, âm chất cũng bị tổn hại theo.” Đoạn này đã đem những việc ác nói rõ cho chúng ta biết rồi.

Người xưa thường nói “Con người nào phải Thánh Hiền, ai mà không mắc lỗi?”. Thử hỏi người thế gian, không chỉ là người ở thế gian này mà lục đạo chúng sanh, bao gồm cả cõi trời thì vẫn là phàm phu, kiến tư phiền não chưa đoạn dứt thì ai mà không có lỗi, ai mà không có chuyện riêng tư?

Vì vậy bàn đến việc xấu và chuyện riêng tư của người khác là việc làm rất không có đạo đức. Nói cách khác là việc gây tổn thương tình cảm, đánh mất tâm nhân hậu của chính mình, đánh mất âm đức của chính mình và còn kết oán thù sâu nặng với người khác. Điều này chúng ta cần phải hiểu rõ.

Lời nói gây tổn thương người khác đều ở trong vô tri vô giác mà kết thành oán thù sâu nặng. Oan oan tương báo không biết bao giờ ngừng dứt. Những người đọc sách trước đây hiểu rõ đạo lý này nên hết sức cẩn thận giữ gìn.

Các vị Đại đức thời xưa thường nói điều đại kỵ lớn nhất của người tu hành chính là nói việc xấu tốt của người khác. Thậm chí đối với hết thảy những việc thế gian không liên quan đến bản thân thì “Miệng không được nói, tâm không được suy tư, nếu miệng nói tâm suy tư, thì mình đã bị mê muội rồi”. Chữ “muội” ở đây chính là mê muội lương tâm của chính mình.

Câu sau nói cũng rất hay: “Nếu chuyên tâm tu hành và tìm lỗi của chính mình thì đâu có thời gian để lo chuyện người khác”. Điều này chính là Đại sư Lục Tổ Huệ Năng thường nói: “Nếu là người chân thật tu hành thì không thấy lỗi thế gian”. Không phải là không có mắt hoặc là không nhìn thấy mà là không có thời gian để thấy lỗi người khác. Chính mình là một thân đầy tội nghiệp, một thân đầy lỗi lầm, tự mình sửa đổi còn không kịp thì làm gì có thời gian để lo việc của người khác.

Cho nên đạo nghiệp của người tu hành có thành tựu trong đời này hay không, điều này vô cùng quan trọng. Nếu thích nói lỗi lầm của người khác, thích thăm dò lỗi lầm của người khác, người này nhất định không phải là người tu hành. Người như vậy nhất định sẽ đọa vào tam đồ. Cho nên tương lai của bản thân chúng ta trong lục đạo như thế nào, chính chúng ta đều rõ hơn ai hết.

Trước đây có người từng hỏi tôi: “Con liệu có bị đọa địa ngục không ?” Tôi trả lời: “Câu này bạn không cần phải hỏi tôi, bạn hãy tự mình kiểm điểm thì sẽ biết ngay”. Phát Khởi Bồ-tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh nói với chúng ta, hủy báng Tam Bảo, hủy báng người tu hành, tội hủy báng đều đọa địa ngục A-tỳ. Chúng ta cần phải tin tưởng rằng phá hòa hợp Tăng, phá hoại đạo tràng, đặc biệt là phá hoại một đạo tràng chánh pháp, nếu bạn có một niệm tán thán thì sẽ được vô lượng vô biên phước báo; một ác niệm hủy báng, đố kỵ, chướng ngại nổi lên liền tạo tội nghiệp đọa địa ngục A-tỳ. Do vậy họa phước chỉ trong một niệm. Con người vốn là ngu si không chịu nhận biết như vậy.

Chúng ta thử nghĩ xem chính chúng ta có tạo tác những tội nghiệp như vậy không? Chúng ta không phải là Thánh Hiền thì nhất định đã tạo những nghiệp tội đó rồi. Chỉ là tội nặng hay nhẹ, lớn hay nhỏ mà thôi.

Rất nhiều người học Phật thậm chí là người xuất gia oán trách Thích-ca Mâu-ni Phật, phê bình Tổ sư Đại đức, phê bình kinh giáo, phê bình ngôn luận tác phẩm của cổ Đại đức. Điều này chúng ta thường xuyên nhìn thấy. Họ không suy nghĩ kỹ, chúng ta chưa cần nói đến kinh Phật mà chúng ta hãy xem những lời của Tổ sư Đại đức xưa đã nói trong Ngữ Lục. Vì sao các Ngài lại nói như vậy? Đối tượng Ngài nói đến là những ai? Dụng ý của các Ngài nằm ở đâu? Chúng ta không chịu nghiên cứu tìm hiểu kỹ càng mà tùy tiện phê bình nên tạo ra tội nghiệp này. Chúng ta không hiểu dụng ý của các Ngài, không hiểu hoàn cảnh đương thời của các Ngài.

Khi Phật thuyết pháp, Ngài thường nói với chúng ta: “Phật vô hữu pháp khả thuyết” (Phật không có pháp nào để nói). Tổ sư Đại đức cũng vô pháp khả thuyết. Nhưng vì sao các Ngài lại thuyết pháp, đó là vì chữa bệnh cho chúng sanh. Cho nên khi thuyết pháp nhất định phải có đối tượng. Đối tượng đó có khuyết điểm gì? Nếu đối tượng đó chấp trước “không”, thì Phật Bồ-tát sẽ nói là “có”. Nếu chấp trước “có”, Phật Bồ-tát liền nói “không”.

Do vậy nói thuyết pháp thực ra là để đối trị những khuyết điểm tật xấu và tiêu trừ những vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Thật ra các Ngài đâu có pháp nào để thuyết mà thường nói pháp chứ. Chỉ là phá chấp trước của hết thảy chúng sanh mà thôi.

Người học Phật chúng ta ngày nay rất hồ đồ, đưa ra những lời thuyết pháp của Phật làm bằng chứng để phê bình Ngài. Nói Ngài đã giảng sai rồi, như vậy chẳng những bản thân mình mắc phải tội lớn, khởi lên vọng tưởng phân biệt chấp trước, mà còn kêu gọi người khác vào hùa với mình, kêu gọi người khác khởi lên vọng tưởng phân biệt chấp trước. Bạn xem cái tội này có nặng không cơ chứ?

Chúng ta ngày nay học Phật cũng hiểu được một chút ý tứ. Chư Phật là tùy hoàn cảnh mà hóa thân, không có thân tướng nhất định mà tùy cơ thuyết pháp, không nói một pháp cố định. Nói lời thành thật, các Ngài không thuyết pháp nào cả. Cho nên trong Kinh Bát Nhã, Phật nói: Nếu có người cho rằng Phật thuyết pháp, đây chính là đang báng Phật, huống hồ còn nói này kia. Nếu bạn nói Phật có pháp để thuyết là đã báng Phật rồi. Ý nghĩa của điều này vô cùng sâu sắc. Người đọc Kinh Bát Nhã rất nhiều nhưng đều không nghĩ đến giáo huấn này của Phật. Phật là vì chúng ta mà nói rõ điều này. Đối với lời nói và hành vi của người thế gian, chúng ta đều không nên phê bình, tốt nhất là không phê bình.

Thế nên các vị Đại đức thời xưa và nhà Nho dạy người là: “Phi lễ chớ nhìn, phi lễ chớ nghe, phi lễ chớ làm”. Nhà Nho dạy người rằng: “Nếu không hợp phép tắc thì không được nhìn, không được nghe, không được nói”.

Tôi thấy kinh của đạo Thiên Chúa cũng dạy những điều này. Trong Kinh Tạ Ơn của họ có mấy câu nói rất hay: “Xin Chúa phù hộ cứu giúp con, chúng con rất dễ bị mê hoặc bởi hết thảy người và sự vật, đánh mất đi lý tánh của bản thân, xin cầu Thượng Đế giúp đỡ, để chúng con biết ăn ăn sửa lỗi chuyên tâm niệm Chúa”. Thế nên, chúng ta niệm Phật còn họ thì niệm Thượng Đế. Niệm cần phải chuyên niệm, chuyên niệm sẽ sinh ra hiệu quả.

Tiếp theo họ nói: “Tâm con đã mãn nguyện”. Điều này chính là tri túc. Câu tiếp theo: “Không tham vật ngoài thân” tức là họ đối với hết thảy người việc vật bên ngoài đều có thể buông xuống. “Chủ nguyên giáo ngã”, tức là Chúa răn dạy chúng con: “Chớ nghe tiếng dâm dục, chớ xem tà sắc, chớ nói lời phi lễ, chớ lấy vật bất nghĩa, chớ đi đến nơi phi lễ, tâm chớ vọng tưởng, ý chớ vọng động”. Bạn xem những điều họ nói đến.

Chúng ta ít tiếp xúc với các tôn giáo khác, sau khi tiếp xúc rồi chúng ta sẽ bội phục năm vóc sát đất. Nếu họ có thể y giáo phụng hành thì sẽ trở thành đại Thánh đại Hiền của thế gian này. Trong kinh của Thiên Chúa giáo tôi xem thấy có rất nhiều câu dạy bảo tín đồ cần làm tấm gương tốt cho xã hội, rất giống với việc chúng ta đề xướng: “Học vi nhân sư, hành vi thế phạm”. Hoàn toàn tương đồng.

Tịnh tông chúng ta nói đến: Tín Nguyện Hạnh. Bên họ cũng nói đến Tín Nguyện Hạnh. Họ có tam đức, đó là Tín Đức, Vọng Đức, Ái Đức. Vọng là mong cầu, Tín Đức chính là “Tín”, vọng đức chính là “Nguyện”, Ái Đức chính là yêu Thiên Chúa, yêu người như yêu chính mình, chính là “Hạnh”. Do vậy họ cũng có Tín Nguyện Hạnh. Chúng ta nói đến sáu ba-la-mật, bên họ thì nói đến bốn điều. Bốn loại đức hạnh cốt lõi đó là: Trí, Nghĩa, Tiết, Dũng. Trí là trí huệ; Nghĩa là bố thí, không mong cầu báo đáp; Tiết là nhẫn nhục; Dũng là trì giới, dũng mãnh sửa đổi lỗi lầm. Trong Kinh của họ đều có nói đến những điều này. Những lời cầu nguyện hòa bình của họ đặc biệt thù thắng, cảm động vô cùng. Họ có thể trở thành đại tôn giáo trên toàn thế giới, có được sự tín ngưỡng của nhiều người như vậy là có đạo lý của họ. Chúng ta ngày nay nói học Phật, thực sự nếu so sánh với họ thì thua xa phía sau rồi. Họ chắc chắc có thể sanh lên cõi trời, chúng ta thì đọa địa ngục A-tỳ. Đây là điều chúng ta cần nghiêm túc kiểm điểm phản tỉnh.

Bên họ cầu nguyện sớm và tối, họ có thời khóa sớm và tối, sớm tối đều cầu nguyện. Thời thời khắc khắc họ đều tự kiểm điểm lỗi lầm của chính mình, sửa đổi lỗi lầm của chính mình. So với chúng ta, họ chăm chỉ hơn nhiều. Tuy rằng Đức Phật có giáo huấn vô cùng thù thắng nhưng vào thời kỳ mạt pháp đa phần chỉ biểu hiện trên hình thức. Do vậy “Tín Giải Hành Chứng” bốn chữ này chỉ là hữu danh vô thực.

Tôi thường xuyên nhắc nhở các bạn đồng học: Sau khi chúng ta chết sẽ đi về đâu? Các bạn không nên cho rằng mình còn rất trẻ, có câu: “Đường đến suối vàng không phân già trẻ”. Đặc biệt thế giới ngày nay tai nạn rất nhiều. Bạn xem trận động đất của Đài Loan gần đây, chỉ trong thời gian mấy giây thôi người trong cả gia đình đều chết hết. Chúng ta thấy có thể không cảnh giác được sao? Cho nên Ấn tổ khai thị cho đại chúng học Phật phải nên dán chữ “Tử” (chết) ở trên trán. Thường xuyên hỏi chính mình, phải làm như thế nào? Phải chân thật tu.

Chúng ta thật ra mà nói rất muốn tu chân thật, nhưng vì sao tập khí lỗi lầm của chính mình không sửa lại được? Không phải là chúng ta không muốn sửa mà thực sự muốn sửa. Chúng ta đọc kinh Đại thừa rất nhiều, nếu tỉ mỉ suy xét sẽ thấy không sửa lỗi được là do nghe kinh quá ít, thời gian nghe pháp của chúng ta quá ít.

Nguyên hội trưởng Cư Sĩ Lâm cư sỹ Trần Quang Biệt, bốn năm cuối đời ông nghe băng đĩa ghi hình, mỗi ngày ông nghe tám giờ liên tục trong bốn năm không gián đoạn. Mỗi một bộ kinh ông thường nghe rất nhiều lần. Điều này trong nhà Phật thường nói đến: “Một môn thâm nhập, trường kỳ huân tu”. Ông đã thành công. Thành công của ông là do ông nắm bắt được cơ hội, thâm nhập kinh tạng.

Khi học một bộ kinh, điều quan trọng là thâm nhập, cần phải hiểu thấu triệt ý nghĩa của bộ kinh đó. Như vậy tín tâm và nguyện tâm của chúng ta mới có thể sanh khởi. Sau đó mới có thể sửa đổi được tập khí, vọng tưởng trước đây của mình. Điều này gọi là chân tu. Thời gian ông tu kể ra cũng không dài, chỉ là bốn năm mà thôi. Một ngày ông dùng tám giờ đồng hồ. Điều này cũng là ông thị hiện cho chúng ta xem. Một người già hơn tám mươi tuổi mới bắt đầu dụng công mà vẫn còn kịp. Ông thực ra có thể vãng sanh sớm trước hai năm, nhưng vì hộ trì Cư Sĩ Lâm nên ông ở lại thêm hai năm nữa. Từ đây ta có thể biết cách tu hành huân tập thế này chỉ cần hai năm là thành công rồi.

Như vậy chúng ta biết những sai lầm của chúng ta ngày nay là không thật tu hành. Lỗi là tại chính mình. Chúng ta vẫn chưa quên được tự tư tự lợi đối với chính mình, vẫn chưa buông được tham sân si mạn, đối với giáo huấn của Phật thì lúc nhớ lúc quên. Lúc chúng ta đọc tụng kinh điển hình như có chút giác ngộ nhưng khi cảnh giới hiện tiền thì lại quên sạch sẽ. Hết thảy vẫn thuận theo phiền não, vẫn thuận theo tập khí.

Do vậy vào thời khóa tối chúng ta cần nghiêm chỉnh tư duy, phản tỉnh, ngày hôm nay mình có bao nhiêu lỗi lầm. Khởi tâm động niêm, ngôn ngữ tạo tác trong ngày hôm nay mình đã nghĩ được mấy việc tốt, làm được mấy việc tốt rồi. Khi đem ra so sánh thì bạn biết được bạn sẽ đi về đường nào. Cho nên việc này không cần đi hỏi người khác.

Người thật sự giác ngộ là người tự nhận thấy việc sửa đổi lỗi lầm là việc cấp thiết số một của chính mình. Nếu khởi tâm động niệm vẫn là đi tìm lỗi của người khác thì đó chính là lỗi lầm lớn nhất của mình. Không có tội nào nặng hơn tội này, cái tâm này cũng đã ác đến chỗ cùng cực rồi. Xã hội ngày nay vì sao lại bại hoại đến mức độ như vậy? Nói cách khác, toàn bộ xã hội hiện tại người người đều biết cách phê bình người khác, khinh mạn người khác nên mới chiêu cảm quả báo như thế.

Chúng ta hãy xem cõi Tịnh độ của chư Phật, Thế Tôn nói với chúng ta ở nơi đó người người đều tán thán lẫn nhau, không có việc đả kích phê bình người khác. Chúng ta lại xem kinh điển của Thiên Chúa giáo và Cơ Đốc giáo, thiên đường mà họ miêu tả trong kinh điển cũng là một khung cảnh âm thanh tuyệt mỹ. Không có hủy báng, không có đả kích, rất đáng để chúng ta suy ngẫm, phản tỉnh.

Hai câu giáo huấn này: “Hình nhân chi xú, yết nhân chi tư” (Phô bày chuyện xấu, bới móc chuyện riêng tư của người khác), chúng ta phải thường xuyên ghi nhớ, nhất định không được phạm phải. Nếu như phạm phải lỗi lầm này thì bạn niệm Phật nhất định không thể vãng sanh. Vì sao vậy? Vì bạn là người ác. Thế giới Cực Lạc là nơi: “Chư thượng thiện nhân tụ hội một nơi”. Bạn tuy có niệm Phật, niệm cũng khá tốt, niệm cũng rất nhiều, một ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu, hai mươi vạn tiếng Phật hiệu nhưng tâm bạn ác, hành vi của bạn ác. Điều kiện vãng sanh về Tịnh độ là “Tâm tịnh tức cõi Phật tịnh”, tâm địa xấu ác thì không thể vãng sanh được.

Trích đoạn trong:
THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN
Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Tập 77

Có thể bạn quan tâm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phật Pháp không có Bản Quyền, mọi sự sao chép từ Pháp Vi Diệu đều được hoan nghênh!