Thiếu nợ người không trả thuộc về nghiệp trộm cắp

Cảm Ứng Thiên đoạn thứ 82: Thiếu nợ người khác tiền bạc, của cải, liền mong họ chết đi. Mong cầu chẳng được toại ý, sanh lòng oán hận, chửi rủa.

Xin mời xem Cảm Ứng Thiên đoạn thứ 82: “Phụ tha hóa tài, nguyện tha thân tử. Can cầu bất toại, tiện sinh chú hận.” (Thiếu nợ người khác tiền bạc, của cải, liền mong họ chết đi. Mong cầu chẳng được toại ý, sanh lòng oán hận, chửi rủa).

Đoạn này nói đến hai sự việc, thiếu nợ người là mượn tiền mà không trả, phàm là mượn vật dụng của người khác không có ý hoàn trả lại thì đều thuộc về loại này. Loại này thuộc về nghiệp trộm cắp. Nhà Phật nói phạm vi của việc trộm cắp vô cùng rộng.

Cổ Đức đã nói rõ với chúng ta giới trộm cắp gọi là “không được lấy”, cái ý này vô cùng hoàn chỉnh, phàm là vật có chủ, bất luận bạn dùng cách gì để có được, người chủ không đồng ý cho bạn mà bạn lấy đi thì đó gọi là trộm cắp, đều thuộc về phạm vi của giới điều trộm cắp này.

Chúng ta mượn đồ của người ta, mượn tiền cũng vậy, mượn đồ vật cũng vậy, người chủ đồng ý cho chúng ta mượn, chứ không phải là cho chúng ta, nếu đã cho chúng ta mượn vậy thì tương lai nhất định phải hoàn trả. Nếu không có tâm muốn hoàn trả thì cái tâm này là tâm trộm cắp, cũng là phạm tội trộm cắp. Nếu mượn tài vật của người khác mà không muốn trả, còn hy vọng họ sớm chết đi, vậy thì tội này càng lớn hơn nữa. Trong kinh Phật nói, người sanh tâm này đã là súc sanh rồi, quả báo trong đời sau nhất định đọa đường ác.

Người thế gian nhãn quang rất cạn cợt, chỉ nhìn thấy cái lợi nhỏ trước mắt, không biết được hậu hoạn là vô cùng. Đọa lạc vào đường súc sanh thì dễ, nhưng để từ súc sanh đạo mà trở lại làm người thì sẽ rất khó. Nguyên nhân là ở chỗ nào? Trong kinh Phật đã nói với chúng ta, nghiệp nhân của đường súc sanh rất phức tạp, rất nhiều, trong đó một điều quan trọng nhất là ngu si.

Các vị hãy suy nghĩ, thiếu nợ người ta mà không muốn trả lại, cái tâm này chính là hết sức ngu si, lại còn cầu mong họ sớm chết đi, vậy là ngu si đến cực điểm, cho nên đọa lạc vào đường súc sanh. Sự ngu si của súc sanh nếu đem so sánh với con người thì ngu si gấp không biết bao nhiêu lần, càng là động vật cấp thấp thì càng ngu si nghiêm trọng hơn.

Chúng ta thấy một câu chuyện ở trong kinh Phật, Thích-ca Mâu-ni Phật năm xưa ở tại vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc, lúc đó đang sửa chữa vườn, Phật và một số đệ tử ngồi cùng nhau, nhìn thấy trên mặt đất có một tổ kiến. Phật nhìn xong thì mỉm cười, các đệ tử ở bên cạnh thấy Phật cười khi nhìn tổ kiến liền thỉnh giáo với Thích-ca Mâu-ni Phật, hỏi Ngài vì sao cười chúng. Phật nói với mọi người, cái tổ kiến này đã trải qua bảy đời Phật xuất thế rồi mà chúng vẫn chưa rời được thân kiến.

Chúng ta không cần phải nói nhiều, một vị tôn Phật xuất thế là ba A-tăng-kỳ kiếp, bảy vị Phật là hai mươi mốt A-tăng-kỳ kiếp, vậy mà chúng vẫn chưa thoát khỏi thân kiến. Không phải là chúng có thọ mạng dài, mà sau khi chết đi thì lại đầu thai trở lại làm kiến nữa. Đạo lý này chúng ta có thể thể hội được, nguyên nhân là gì? Quá chấp trước, nó chấp trước cái thân đó chính là nó, cho nên vĩnh viễn không đổi sang một thân thể khác được, chấp trước cái tổ đó là quê nhà của nó, vĩnh viễn không rời xa cái xứ sở này của nó, sau khi chết đi đầu thai, vẫn cứ đầu thai vào thân loài kiến, đây chân thật là ngu si đến cùng cực.

Cho nên Phật ở trong tất cả các kinh luận Đại Tiểu Thừa đã nói với chúng ta, chúng ta phải có thể thể hội được, phải biết sự tận tình khuyên bảo của Phật. Ba đường ác là dễ vào mà khó ra. Đây là chân tướng sự thật: đọa ba đường ác rất dễ dàng.

Nghiệp nhân của ba đường ác là tham sân si, nên Phật dạy chúng ta tu Giới Định Huệ, “siêng tu Giới Định Huệ, diệt trừ tham sân si”, mục đích là không đọa đường ác. Thế nên con người nhất định phải tuân giữ bổn phận của một con người, giữ cái căn bản của một con người.

Căn bản của con người là gì? Trong nhà Phật là ngũ giới, trong nhà Nho là ngũ thường, ngũ thường là: nhân nghĩa lễ trí tín. Đây là điều kiện cơ bản để làm người. Nếu chúng ta mất đi những điều kiện căn bản này thì đời sau nhất định không thể nào có được thân người.

Các vị phải biết, chúng ta đời này được thân người là do trong đời quá khứ đã tu các điều kiện này, trong đời này gặp được duyên, cha mẹ và chúng ta có duyên, cha mẹ là thuộc về tăng thượng duyên. Người chân thật đến cõi người đầu thai là do trong đời trước đã tu được nghiệp nhân này, là nghiệp nhân ngũ giới thập thiện. Cho nên đi đến nhân đạo làm người là không sai, nhưng lần này chúng ta đến cõi người thì lại tương đối bất hạnh, nguyên nhân là gì? Hoàn cảnh xã hội không tốt, lại không có người dạy chúng ta, ngày xưa đích thực là các vị đọc Lễ Ký Tinh Hoa Lục thì sẽ rõ, bộ sách Lễ Ký này nếu dùng cách nhìn của giới học thuật hiện đại thì nó thuộc dạng tạp chí, là một loại tạp chí cổ xưa, những thứ ghi trong đó rất chi tiết, rất nhiều, là một quyển tạp chí vô cùng có giá trị.

Ở trong đây, chúng ta có thể xem thấy tình trạng cuộc sống, chế độ văn vật của người xưa, bạn hãy xem người xưa xem trọng giáo dục đến như vậy, đặc biệt là giáo dục gia đình. Mặc dù người ngày trước được đi học tương đối ít, có rất nhiều bậc cha mẹ đều không biết chữ, nhưng cả đời họ đã nhận được sự hun đúc của giáo dục đời trước trong xã hội. Họ hiểu được đạo lý làm người, họ biết làm tấm gương tốt cho con cái.

Căn bản của giáo huấn Thánh Hiền là “ngũ luân”, “ngũ thường”. Họ biết được, ngũ luân là nói mối quan hệ giữa người với người, bạn nhất định phải nhận biết rõ ràng. Ngũ thường là căn bản của đạo lý làm người.

Cái thứ nhất là “Nhân”, “suy từ mình ra người”, “thứ mình không muốn thì đừng làm cho người”, chưa học qua sách vở thì cũng hiểu đạo lý này. Họ cũng có thể ghi nhớ được mấy câu nói này, đối đãi với bất kỳ người nào, họ đều đặt mình vào vị trí người khác để suy nghĩ, ta đối đãi với người khác như vậy, người ta có bằng lòng tiếp nhận hay không? Người ta không thể tiếp nhận, vậy thì chúng ta không thể tiếp tục làm, người khác đối đãi với chúng ta như vậy, chúng ta không thể tiếp nhận vậy thì ta cũng không thể dùng loại tâm thái này để đối đãi với người khác.

“Nghĩa”, là vì xã hội, vì người khác phục vụ, không cầu báo đáp, chúng ta ngày nay nói là tận nghĩa vụ. Đạo tràng của chúng ta có rất nhiều người làm thiện nguyện, đến để phục vụ đạo tràng, phục vụ mọi người, không mong cầu được báo đáp gì cả.

“Lễ” là có chừng mực, là có tiết chế, tự mình khiêm tốn mà tôn trọng người khác. “Trí” chính là lý trí mà con người ngày nay hay nói, không phải là tình cảm, trong tình cảm thì có nhiều lỗi lầm, làm việc thường tình mà có lý tính.

Sau cùng là nói “Tín”, “nhân vô tín nhi bất lập” (người không có chữ tín thì không thành người), đây là đạo lý mà cổ Thánh tiên Hiền dạy người ta làm người, phải tuân thủ giữ gìn năm chữ này.

Cho nên vào thời đại ngày xưa, bất luận là được đi học hay không được đi học, biết chữ hay không biết chữ thì đều hiểu được đạo lý này. Hơn nữa còn có thể tuân thủ, cho nên xã hội an định.

Hiện tại khoa học kỹ thuật phát triển, văn minh vật chất có sự tiến bộ vượt bậc, nhưng lại không biết mối quan hệ giữa người với người, đạo đức thì càng bị xem nhẹ, thậm chí là quên mất. Đặc biệt xã hội hiện tại đang đề xướng cạnh tranh, chữ “tranh” trong cạnh tranh này trong “nhân nghĩa lễ trí tín” đều không có. Cho nên chúng ta sống trong thời đại này, thời đại này là thời đại động loạn, người đời sau viết lịch sử thì sẽ gọi thời đại này là loạn thế, con người không biết được mối quan hệ người với người, không biết đạo lý làm người.

Cho nên hôm nay chúng ta đọc đoạn này, có thể nói đây là việc thường thấy trong xã hội, có rất nhiều người đều có tâm thái như vậy, chúng ta phải nên biết, tâm thái như vậy thì hậu quả sẽ không thể tưởng tượng nổi. Dùng tâm trộm cắp thì người này làm gì có thể phát tài? Làm gì có thể có được cuộc sống hạnh phúc? Đây là việc không thể nào.

Việc thứ hai là “Can cầu bất toại, tiện sinh chú hận.” (Mong cầu chẳng được toại ý, sanh lòng oán hận, chửi rủa). Đây cũng là việc mà ngày nay chúng ta rất thường thấy, có việc cần người khác giúp đỡ, người khác không thể đáp ứng được sự mong muốn của bạn thì bạn lại sanh oán hận.

Ở trong chú giải đã nêu ra cho chúng ta rất hay. “Can cầu là chỉ hết thảy những việc lớn nhỏ, phàm là có việc muốn khẩn cầu nhờ vả người khác thì đều gọi là can cầu”. Cho nên phạm vi của nó rất rộng lớn. “Bất toại” là không được như ý, bạn cầu người khác giúp đỡ, người ta không đáp ứng nguyện vọng của bạn, thế là bạn chửi mắng họ, nguyền rủa họ, bạn hận họ, đây là tạo tội tạo nghiệp.

Đoạn kế tiếp phía sau, “Quân tử rõ lý, an với mệnh lẽ nào chịu thỉnh cầu nhờ cậy người khác”. Đây là người hiểu lý lẽ, người hiểu rõ lý lẽ thật sự là một đời tự mình cho dù nghèo khốn đến cùng cực thì chính mình hiểu được đây là tự làm tự chịu, cũng không đi cầu người khác, có thể an tâm tùy duyên, bằng lòng với số mệnh.

Cho dù là có lúc bất đắc dĩ phải đi cầu cạnh người khác, người ta chịu giúp đỡ thì rất cảm kích, người ta không chịu giúp đỡ thì xem như là bổn phận phải tự làm lấy, nhất định không thể có tâm oán hận. Nếu có một mảy may tâm oán hận thì cổ nhân nói đây là tiểu nhân, không phải là quân tử, thế nào gọi là quân tử? Người hiểu rõ lý thì gọi là quân tử, vậy tiểu nhân là gì? Mê hoặc điên đảo, không hiểu đạo lý, làm sao lại có thể trách người khác được chứ?

Người học Phật càng không thể có ý niệm này, nếu có ý niệm như vậy thì người đó không phải là người học Phật, họ đối với Phật pháp, đối với giáo huấn của Phật-đà căn bản là không thể lý giải được. Vậy thì càng không thể làm được rồi, những giáo huấn mà Phật đã nói thì họ không hiểu.

Chúng ta xem thấy trong kinh điển Phật Bồ-tát dùng tâm thái như thế nào để đối đãi với người ác vậy? Các vị đều đã đọc qua Kinh Kim Cang, trong Kinh Kim Cang có một thí dụ, là việc vua Ca-lợi cắt xẻ thân thể. Trong Kinh Kim Cang nói rất đơn giản, đoạn công án này được ghi chép rất tường tận ở trong Kinh Đại Niết Bàn.

Nhẫn Nhục tiên nhân là tiền kiếp của Thích-ca Mâu-ni Phật, khi còn chưa thành Phật, trong quá trình đang tu hành, đã tu nhẫn nhục ba-la-mật, mọi người gọi Ngài là Nhẫn Nhục tiên nhân. Vua Ca-lợi, Ca-lợi là tiếng Phạn, phiên dịch thành tiếng Hoa thì chúng ta thường gọi là hôn quân vô đạo, là một bạo quân, ngang ngược không nói lý lẽ. Nhẫn Nhục tiên nhân không có lỗi lầm gì, thế nhưng lại lăng trì xử tử Ngài, tiên nhân đối với ông vua này có oán hận hay không? Không có, không những không oán hận mà hơn nữa còn vô cùng cảm tạ vua. Ngài cảm kích việc gì vậy? Cảm kích tâm thái ngang ngược của vua, tự mình có thể nhẫn chịu được, đây là tướng nhẫn nhục ba-la-mật viên mãn.

Chúng ta hiểu được rồi, nếu không có vua Ca-lợi, một người hung tàn vô lý như vậy giáng xuống cho Ngài sự sỉ nhục nghiêm trọng nhất thì làm sao biết được công phu nhẫn nhục của Ngài. Việc này giống như thi kiểm tra vậy, Ngài có thể nhẫn được, một mảy may ý niệm oán hận cũng không có, hơn nữa lại còn phát nguyện, tương lai tôi thành Phật thì người đầu tiên tôi độ chính là ông.

Cho nên khi Thế Tôn thành Phật thì người đầu tiên được độ là tôn giả Kiều-trần-như, Kiều-trần-như chính là vua Ca-lợi năm xưa, còn Thích-ca Mâu-ni Phật chính là Nhẫn Nhục tiên nhân. Ngài nói và giữ lời, Ngài đã thực hiện được câu: khi ta thành Phật người đầu tiên ta độ chính là ông.

Cho nên, cổ đức dạy bảo chúng ta, “oan gia nên giải không nên kết”. Con người sống tại thế gian này nhất định là không nên kết oán với người khác, kết oán với người khác là sai rồi. Người ta cho dù không vừa lòng với bạn, sỉ nhục bạn, hủy báng bạn, hãm hại bạn, người học Phật chúng ta biết được đây là nghiệp báo mà mình đã tạo trong đời quá khứ.

Quá khứ đã tạo nghiệp bất thiện, nên đời nay thọ quả báo, hoan hỷ mà tiếp nhận, tội báo liền được báo hết, không có một tơ hào tâm oán hận nào cả. Oán kết đã hóa giải rồi, đây là việc tốt, không phải là việc xấu. Nếu có một niệm tâm bất bình thì cái oán kết này vẫn còn, chưa được khai giải hết, không khai giải hết thì tương lai vẫn sẽ báo tiếp, nên gọi là oan oan tương báo, không bao giờ ngừng dứt, việc này thật là đáng sợ.

Chúng ta học Phật thì mức độ thọ dụng thấp nhất phải có thể đạt được việc này, đây là mức độ thọ dụng thấp nhất. Ta hiểu được rồi, tất cả những oán thân trái chủ gây ra cho ta đủ loại việc không như ý, ta đều hoan hỷ tiếp nhận, cung kính tán thán thì chúng ta đã thanh toán hết rồi, cũng thành tựu được hạnh nhẫn nhục cho chính mình. Hạnh nhẫn nhục ở trong lục độ biết đi đâu để tu bây giờ? Chính là tu ở trong những cảnh giới này.

Cho nên những người đó là thầy nhẫn nhục ba-la-mật của chúng ta, là thiện tri thức để ta tu hạnh nhẫn nhục. Chúng ta cung kính cảm kích còn không hết thì sao lại có thể có lòng oán hận với họ chứ? Đây là chúng ta đạt được thọ dụng chân thật trong Phật pháp, chúng ta phải nên hiểu, phải nên lý giải được, để cả cuộc đời này của chúng ta đều có thể sống trong thế giới biết ơn, đạo nghiệp của chúng ta sẽ không khó thành tựu.

Trích đoạn trong:
THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN
Người giảng: Lão Hòa Thượng – Pháp Sư Tịnh Không
Tập 96

Có thể bạn quan tâm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phật Pháp không có Bản Quyền, mọi sự sao chép từ Pháp Vi Diệu đều được hoan nghênh!