Thường Tịch Quang Độ: Cõi nước do Pháp Thân Phật trụ

Thường Tịch Quang Độ: Cõi nước do Pháp Thân Phật trụ được gọi là cõi Thường Tịch Quang. Những vị này chẳng phải là Đại Sĩ, mà là Pháp Thân Phật.

Tiếp đó, giảng về cõi thứ tư “Thường Tịch Quang độ. Pháp Thân Phật sở cư chi độ, danh vi Thường Tịch Quang độ”. (Cõi Thường Tịch Quang: Cõi nước do Pháp Thân Phật trụ được gọi là cõi Thường Tịch Quang).

Những vị này chẳng phải là Đại Sĩ, mà là Pháp Thân Phật. Pháp Thân Phật là địa vị Diệu Giác, cao hơn Đẳng Giác là Diệu Giác. Đẳng Giác, gần bằng Diệu Giác, nhưng vẫn chưa phải là Diệu Giác, vì sao? Còn có một phẩm tập khí sanh tướng vô minh cuối cùng chưa phá.

Do vậy, trong cõi Thật Báo có tướng, nhưng cõi Thường Tịch Quang không có tướng, Thường Tịch Quang hiện tướng thành cõi Thật Báo. Vì sao nó có thể hiện tướng? Tập khí vô minh chưa đoạn, tướng được hiện ấy là do tập khí vô minh biến hiện.

Chư vị hãy nhớ, cõi ấy chẳng do A Lại Da biến hiện, mà do tập khí vô minh biến hiện. Không có tập khí thì cõi Thật Báo cũng chẳng có; nhưng cõi Thật Báo dường như cũng vĩnh viễn tồn tại, trong kinh Đại Thừa có một câu nêu rõ nguyên nhân, kinh nói như thế nào? “Pháp Thân Phật lưu Hoặc nhuận sanh” (Pháp Thân Phật giữ lại Hoặc để lợi ích chúng sanh). “Hoặc” là gì vậy? Tập khí vô minh từ vô thỉ chính là một phẩm sanh tướng vô minh cuối cùng, Ngài có năng lực đoạn một phẩm ấy, nhưng không đoạn, vì sao? Sau khi đoạn, sẽ không thể phục vụ chúng sanh, sẽ chẳng còn độ chúng sanh. Đấy là lòng từ bi vô tận từ tự tánh thị hiện, mà cũng là vô lượng trí huệ thị hiện, đó là hai thứ quý báu nhất trong tự tánh: Trí huệ Bát Nhã và đại từ đại bi. Hai thứ ấy do Tánh Đức viên mãn mở rộng ra, hiển hiện, chẳng do tu thành.

Chúng ta chẳng cần nói tới Pháp Thân Phật, chỉ nói tới Pháp Thân Bồ Tát, trong cõi Thật Báo, trí huệ của các Ngài đã trọn khắp pháp giới hư không giới, lòng từ bi của các Ngài cũng trọn khắp pháp giới hư không giới.

Giống như trong phần trước, đức Phật đã nêu thí dụ, “nhất hào đoan” (đầu một sợi lông), “vi trần lý” (trong một hạt vi trần), viên mãn trọn đủ trí huệ Bát Nhã và từ bi của tự tánh. Chúng ta có trí huệ và lòng từ bi ấy hay không? Đương nhiên là có, trong đầu mỗi sợi lông của chúng ta cũng đều có, trong mỗi một hạt vi trần của y báo cũng đều có. Hạt vi trần như trong nhà Phật nói được khoa học hiện tại gọi là “hạt cơ bản” hoặc “khoa-khắc” (quartz: hạt vi lượng), tràn ngập trí huệ, đầy ắp từ bi.

Chúng ta biết: Tự tánh không có lớn hay nhỏ, không có trước hay sau. Không có lớn hay nhỏ là không có không gian. Không có trước hay sau là không có thời gian. Siêu việt thời gian và không gian, nhưng không nơi nào chẳng tồn tại, không khi nào chẳng tồn tại, không chỗ nào chẳng hiện diện. Vì thế, chư Phật Như Lai, kể cả Pháp Thân Bồ Tát chẳng có gì không yêu thương. Vì sao? Các Ngài đã giác ngộ, hiểu rõ hết thảy y báo và chánh báo trang nghiêm trọn khắp pháp giới và hư không giới có cùng một Thể với chính mình.

Một tự tánh, sở sanh, sở hiện; một A Lại Da, năng biến, sở biến, trừ những thứ này ra, chẳng còn pháp nào khác. Vì vậy, tông Duy Thức trong Đại Thừa chẳng thừa nhận trong vũ trụ có thể lập ra một pháp nào, chỉ có Thức tồn tại, chỉ có A Lại Da. Trừ A Lại Da ra, điều gì cũng đều không có, từ ba ngàn năm trước đức Phật đã nói điều ấy. Các khoa học gia hiện thời cũng nói giống như vậy, họ đã chứng thực lời Phật. Các khoa học gia nói: Trong vũ trụ này, thứ gì cũng đều chẳng có, chỉ có ba thứ là năng lượng, thông tin, và vật chất. Trừ những thứ ấy ra, thứ gì cũng đều chẳng có!

Cách nhìn ấy nếu xét theo Duy Thức thì năng lượng là nghiệp tướng của A Lại Da, thông tin là chuyển tướng, vật chất là cảnh giới tướng. Ba thứ ấy do đâu mà có? Sanh từ nhất niệm, là dao động vô cùng vi tế. Hễ nó vừa động, cả ba hiện tượng ấy bèn hiện ra. Toàn thể vũ trụ do ba hiện tượng này biến hóa, nó là hiện tượng dao động. Vì sao có muôn hình muôn vẻ khác nhau nhiều như thế? Tần số dao động khác nhau, nhưng thật ra, tốc độ dao động giống nhau. Tướng tương tự tương tục khác nhau rất lớn. Đây là từ Tam Tế lại giảng cho quý vị nghe tướng Lục Thô. Tướng Lục Thô là nói về phân biệt, chấp trước, A Lại Da là nói đến khởi tâm động niệm; đấy là triết học cao cấp trong Phật pháp, là khoa học cao cấp. Do vậy, cõi mà Pháp Thân Phật ngự, trở về tự tánh viên mãn là Thường Tịch Quang.

“Yếu Giải vân: Thật Tướng chi thể, phi Tịch, phi Chiếu” (Sách Yếu Giải giảng: “Thể của Thật Tướng chẳng Tịch, chẳng Chiếu”). Tịch là thanh tịnh tịch diệt, trong kinh Đại Thừa gọi Tịch là Bát Niết Bàn. Bát Niết Bàn (Parinirvana) là tiếng Ấn Độ, có nghĩa là “thanh tịnh tịch diệt”. Huệ Năng đại sư kiến tánh, nói: “Nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh”. Vì sao thanh tịnh? Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều chẳng có, nên gọi là Diệt, tức là diệt vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Thể của nó là thanh tịnh; đấy là bản thể.

Tổ tiên và cổ thánh tiên hiền Trung Quốc đã nói: “Bổn tánh bổn thiện” (bổn tánh vốn lành) nhằm ý nghĩa này! Tự tánh có rời khỏi chúng ta hay không? Không có! Chẳng thể nào rời khỏi. Nay chúng ta có tự tánh hay không? Đương nhiên là có, giống như chúng ta xem TV, TV có thể tách rời màn hình hay chăng? Quý vị chẳng thể rời khỏi, hễ rời khỏi màn hình sẽ chẳng có tướng. Ngoài tâm không có pháp, ngoài pháp chẳng có tâm, tâm là màn hình, tướng thuộc các băng tần được biến hiện trên màn hình là pháp, tức vạn pháp.

Thể, Tướng, Dụng chắc chắn chẳng thể phân khai độc lập, không thể nào! Thể, Tướng, Dụng vĩnh viễn dung hợp thành một Thể, Thể ấy là tự tánh thanh tịnh viên minh thể. Chúng tôi dùng màn hình làm tỷ dụ cho quý vị dễ hiểu.

Ví như nay chúng ta xem TV, nhưng quên tuốt màn hình TV, nói sao quý vị cũng chẳng thông, chẳng có cách nào hiểu. Vì sao? Quý vị vẫn một mực chưa thấy màn hình, giống như TV vĩnh viễn mở, quý vị sẽ chẳng biết TV có màn hình, chỉ nhìn thấy nó có tướng cảnh giới. Tướng cảnh giới ấy thiên biến vạn hóa, nó là pháp sanh diệt, màn hình là bất sanh bất diệt. Phàm phu chẳng biết trong sanh diệt có bất sanh bất diệt. Chẳng sanh diệt mới là chính mình. Đó là tự tánh, là chân tâm. Ai biết? Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều buông xuống, quý vị sẽ có thể thấy được, chứng đắc, đó gọi là “minh tâm kiến tánh”. Tánh được gọi là Thường Tịch Quang, Thường là vĩnh hằng không thay đổi.

Chúng ta dùng những câu nói của Huệ Năng đại sư để diễn tả thì Thường là câu nói thứ hai của Ngài khi đã giác ngộ: “Nào ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt”, đấy là Thường. Tịch là gì? Câu đầu tiên là Tịch, “nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh”, đấy là Tịch. Câu thứ tư là Tịch, “nào ngờ tự tánh vốn chẳng dao động”. Quý vị thấy hai câu ấy là Tịch. Còn có hai câu là Quang, câu thứ ba: “Vốn tự trọn đủ”, trong tự tánh vốn tự trọn đủ, trọn đủ gì vậy? Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đã nói tự tánh vốn trọn đủ trí huệ và đức tướng, chúng tôi thay trí huệ và đức tướng bằng một câu vẫn do đức Phật giảng, đó là kiến văn giác tri, tự tánh vốn tự trọn đủ kiến văn giác tri. Câu cuối cùng của Lục Tổ chính là nói nó (tự tánh) tỏa ánh sáng, tức là khởi tác dụng: “Có thể sanh vạn pháp”. Có thể sanh vạn pháp thì vạn pháp do đâu sanh ra? Sanh từ câu thứ ba “vốn tự trọn đủ”! Không có duyên, nó sẽ chẳng sanh, nó thanh tịnh. Hễ có duyên, nó bèn sanh. “Có duyên” là nhất niệm bất giác. Nhất niệm bất giác là động rồi, hễ động, thứ đầu tiên xuất hiện là A Lại Da.

A Lại Da vừa xuất hiện, tất cả vạn pháp sẽ xuất hiện, sách Hoàn Nguyên Quán viết: “Hiển nhất thể, khởi nhị dụng, thị tam biến”. Ba đoạn lớn này giảng về duyên khởi vũ trụ, mà cũng là duyên khởi của A Lại Da, duyên khởi của Tánh Đức, nói cách nào cũng được, nói như thế nào cũng đều thông suốt. Đấy là chân tướng sự thật, “Thật Tướng của các pháp” như trong Bát Nhã thường nói chính là nói về điều này. Bởi lẽ, Thể của Thật Tướng chẳng Tịch, chẳng Chiếu. Tịch là thanh tịnh tịch diệt, Chiếu là quang minh chiếu khắp. Nó có Tịch hay không? Có Chiếu hay không? Có! Nhưng xét trên Thể, Tịch và Chiếu đều ẩn, chẳng khởi tác dụng, nhưng vốn tự trọn đủ! Thứ gì cũng đều không có, nhưng quý vị chẳng thể nói là không có. Nó có, khi khởi tác dụng nó có thể sanh muôn pháp, nhưng quý vị chẳng thể nói nó là có, chẳng Tịch, chẳng Chiếu.

“Nhi phục Tịch, nhi hằng Chiếu, Chiếu nhi hằng Tịch” (nhưng lại là Tịch mà luôn Chiếu, tuy chiếu nhưng luôn Tịch). Khi nó khởi tác dụng, xét theo Tướng, chúng ta nói là hình ảnh trên màn hình, Tịch nhưng hằng Chiếu, ẩn và hiện như nhau.

Tịch là ẩn, Chiếu là hiện; tuy hiện, nhưng hiện mà thường Tịch. Tôi dùng hai chữ này để giảng cho mọi người dễ hiểu. Chúng ta có biết chân tướng sự thật này hay không? Đối với chân tướng sự thật này, ắt phải thật sự tham thấu triệt lời Di Lặc Bồ Tát đã giảng: “Trong một cái khảy ngón tay có ba mươi hai ức trăm ngàn niệm” thì quý vị sẽ hiểu rõ hai câu này.

Tịch mà hằng Chiếu, Chiếu mà hằng Tịch, thay đổi một chữ, nhưng ý nghĩa vẫn như vậy, thay bằng một chữ rõ nghĩa hơn để mọi người dễ hiểu hơn một chút: Tịch mà thường Chiếu, Chiếu mà thường Tịch. Hằng và Thường có cùng một ý nghĩa, dùng chữ Thường sẽ rõ nghĩa hơn một chút, mọi người sẽ dễ hiểu ý nghĩa “Tịch mà thường chiếu, tuy Chiếu nhưng thường Tịch”.

Trong tất cả các hiện tượng, bất luận nhiễm hay tịnh, thiện hay ác, bất luận trong cảnh giới nào, quý vị vẫn chớ nên khởi tâm động niệm, khởi tâm động niệm là trật rồi! Khởi tâm động niệm đều chẳng thể được đương nhiên càng chớ nên có phân biệt, chấp trước. Có phân biệt là sai lầm to lớn; có chấp trước thì càng sai lầm lớn hơn nữa. Đó là gì? Hết thảy các pháp sanh từ tâm tưởng!

Quý vị có phân biệt, sẽ biến cõi Thật Báo thành cõi Phương Tiện, cõi Phương Tiện là tứ thánh pháp giới. Quý vị có chấp trước, sẽ biến cõi Phương Tiện thành cõi Đồng Cư, lại biến thành lục đạo luân hồi. Chẳng phải do ai khác làm, chẳng mảy may liên quan đến người khác.

Chư vị phải biết: Chẳng dính dáng gì đến Phật, Bồ Tát, mà cũng chẳng dính líu Thượng Đế, mà cũng chẳng dính dáng đến vua Diêm La, chẳng liên can đến hết thảy các ngoại duyên. Ai làm? Do ý niệm của chính mình quấy phá, đó là chân tướng sự thật, quý vị phải hiểu rõ ràng, hiểu minh bạch….

Trích đoạn trong:
Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa Tập 30
Chủ giảng: Lão Hòa Thượng – Pháp Sư Tịnh Không

Có thể bạn quan tâm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phật Pháp không có Bản Quyền, mọi sự sao chép từ Pháp Vi Diệu đều được hoan nghênh!