Vì sao phải vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc?

Vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc, vì sao phải vãng sanh? Là vì cái này, không lấy thế giới Tây Phương Cực Lạc, tu hành quá khó.

… Chúng ta học tiếp, “Cực Lạc thành Phật dị, vô thoái chuyển cố”, vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc. Vì sao phải vãng sanh? Là vì cái này, không lấy thế giới Tây Phương Cực Lạc, tu hành quá khó.

Mười phương tam thế nhất thiết chư Phật Như lai, đều hướng dẫn người tu hành cầu sanh Tịnh độ. Chư Phật như lai không ích kỷ, không vì mình, đều muốn giúp cho người khác thành tựu, nơi nào nhân duyên thù thắng thì giới thiệu cho chúng sanh đi về đó. Niệm niệm đều nghĩ độ chúng sanh, niệm niệm đều mong chúng sanh quay đầu, chúng sanh thành Phật, không bao giờ nghĩ đến bản thân mình.

Trong kinh phẩm Vãng Sanh Chánh Nhân có dạy rằng: “chư vãng sanh giả, giai đắc A Duy Việt Trí, viên chứng tam bất thoái”. “ chư vãng sanh giả”, câu này rất quan trọng, tứ độ tam bối cửu phẩm, bất luận là phẩm vị nào, bất luận là chúng sanh có căn tánh gì, chỉ cần bạn có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc, hạ hạ phẩm ở đồng cư độ cũng tốt, cũng là Bồ tát A Duy Việt Trí, đều có kim sắc thân đầy đủ 32 tướng tốt, đều được làm Phật, đó là khẳng định.

Ý câu này nói rằng phàm thánh đồng cư độ, vì sao vậy? Kim sắc thân, 32 tướng, đều có nơi đồng cư độ. Tướng của người vãng sanh giống như tướng của Phật A Di Đà vậy. Cõi Cực Lạc hơn các cõi khác trong mười phương, phàm phu đới nghiệp sanh về cõi này, bèn được A Duy Việt Trí.

A Duy Việt Trí, dịch là bất thoái. A Duy Việt Trí là tiếng Phạn, dịch thành tiếng Trung có nghĩa là bất thoái chuyển, vị bất thoái, hành bất thoái, niệm bất thoái.

Dưới đây nói, bất thoái có 3 nghĩa, đã giải thích cho chúng ta, bất thoái có 3 nghĩa. Thứ nhất, vị bất thoái, “nhập thánh lưu”, thánh nhân, thánh lưu, khu vui chơi của thánh nhân. Phải cần điều kiện gì?

Ở thế giới của chúng ta đây phải đoạn kiến hoặc, bạn mới có thể nhập thánh lưu. Thánh lưu là sơ quả của Tiểu thừa, còn Đại thừa thì kinh Hoa Nghiêm có ghi, đó là Bồ Tát Sơ Tín trong Thập Tín, trong Phật pháp gọi là tiểu tiểu thánh, sơ quả.

Phải buông bỏ thân kiến, không nên chấp trước thân là của mình, phải buông bỏ biên kiến, quyết định không có niệm đối lập, không đối lập với mọi người, không đối lập với sự việc, không đối lập với tất cả vạn vật, buông bỏ hết.

Kế đến buông bỏ thành kiến, chính là ý kiến của riêng mình, không có ý kiến của riêng mình. Thành kiến lại chia làm, thành kiến của nhân và thành kiến của quả. Thành kiến của nhân gọi là giới thủ kiến, thành kiến của quả gọi là kiến thủ kiến, hai loại thành kiến lớn này đều không có.

Các vị nên biết rằng, tâm thanh tịnh hiện tiền, vừa mới hiện tiền, thanh tịnh bình đẳng giác, tất cả những kiến giải sai lầm, đều buông bỏ hết. Vì sao vậy? Hoàn toàn nương vào sự giáo huấn của Thánh giáo, đối với Thánh giáo không hề nghi hoặc.

Thông thường người ta học Phật khó khăn, cho rằng trong kinh điển có ý kiến riêng của mình, cho rằng không thích hợp với xã hội hiện đại, mấy câu này không thích hợp với sự tu tập của chúng ta ngày nay.

Họ đã khởi tâm như vậy. khởi tâm như vậy thì sẽ bị chướng ngại, không thể nhập vào Thánh lưu, họ khởi phiền não, khởi phân biệt, khởi chấp trước. Nếu chúng ta đối với kinh giáo, không khởi phân biệt, không khởi chấp trước, như thế là đúng. Khó! Vô cùng khó! Đặc biệt là giới luật, đối với giới luật tôi có niềm tin….

Trích đoạn trong:
Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa Tập 31
Chủ giảng: Lão Hòa Thượng – Pháp Sư Tịnh Không

Có thể bạn quan tâm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phật Pháp không có Bản Quyền, mọi sự sao chép từ Pháp Vi Diệu đều được hoan nghênh!