Vô lượng pháp môn đều quy về pháp môn Tịnh Độ

Thế Tôn xuất thế vì chúng ta mà thuyết rất nhiều kinh luận, rất nhiều pháp môn, đều là vì khế cơ. Nhưng vô lượng vô biên pháp môn, đến sau cùng đều quy kết về pháp môn Tịnh Độ.

Thế Tôn năm xưa còn tại thế, vô số lần đã ân cần dặn dò chúng ta, dạy bảo chúng ta tự mình tu hành như thế nào, làm sao để giúp đỡ hết thảy đại chúng có duyên. Ở trong vô lượng hành môn, Đại sư Thiện Đạo đã từng nói: “chư Phật sở dĩ hưng xuất thế duy thuyết Di-đà bổn nguyện hải” (chư Phật sở dĩ xuất hiện ở đời chỉ là để nói bổn nguyện rộng lớn của Đức Di-đà).

Mọi người chúng ta đều biết, Ngài Thiện Đạo là hóa thân của A Di Đà Phật đến thế gian này của chúng ta, lời của Thiện Đạo Đại sư chính là lời của A Di Đà Phật tự mình nói ra. Thông tin này truyền đến cho chúng ta, nội dung chân thật của nó, mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai hiện thân ở trong mười pháp giới chính là vì một sự việc. Đó là khuyên người niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ mà thôi.

Bởi vì chúng sanh căn tánh không tương đồng, sai biệt quá lớn, cho nên Thế Tôn xuất thế vì chúng ta mà thuyết rất nhiều kinh luận, thuyết ra rất nhiều pháp môn, đều là vì khế cơ. Chúng ta hiện nay nói là thích ứng với các căn tánh khác nhau của mọi người, thích ứng với các loại căn cơ khác nhau của các tộc loại. Nhưng vô lượng vô biên pháp môn, đến sau cùng đều quy kết về pháp môn Tịnh Độ.

Việc này chúng ta nhìn thấy rất rõ ở Kinh Hoa Nghiêm, tất cả người tu hành sau cùng quy túc về thế giới Hoa Tạng. Sau khi đến thế giới Hoa Tạng thì bạn sẽ thân cận với Tỳ Lô Giá Na Như Lai, Văn Thù Phổ Hiền đại sĩ. Văn Thù Phổ Hiền lại lấy thập nguyện thập độ dẫn dắt quay về Cực Lạc.

Những cổ Đại đức thời đại Tùy Đường đã dùng tâm hiếu kỳ để tham cứu hết thảy kinh giáo mà Thích-ca Mâu-ni Phật đã thuyết trong 49 năm xem tổng quy kết là về đâu. Những vị Đại đức này cũng bao gồm cả những vị Đại đức từ Nhật Bản, Hàn Quốc đến Trung Quốc du học, sự kết quy của họ cũng chính là sự công nhận hết thảy tất cả kinh pháp đều quy về Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Cho nên có thể khẳng định Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh là giáo pháp căn bản của Thế Tôn, khẳng định tất cả hết thảy kinh luận đều là cành lá của Hoa Nghiêm.

Tỉ dụ như một cây đại thụ thì Hoa Nghiêm là gốc của cây, là thân của cây này, hết thảy kinh pháp mà Thế Tôn đã dạy trong 49 năm là cành lá của thân cây. Việc này được khẳng định ở Trung Quốc 2000 năm nay, đều được tứ chúng đồng học tôn trọng, không ai phản đối. Kinh Hoa Nghiêm đến sau cùng Phổ Hiền Bồ-tát dùng mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc, từ đây mới hiểu được Cực Lạc Tịnh Độ là nơi tổng quy kết của tất cả người tu hành trong mười pháp giới.

Cư sĩ Bành Tế Thanh những năm Càn Long thời đầu triều Thanh là một Đại đức rất có thành tựu trong Phật pháp. Khi Hoàng Niệm Tổ lão cư sĩ giảng Hoa Nghiêm Niệm Phật Luận đã từng làm một bài giới thiệu rất chi tiết. Bành Tế Thanh là người xuất thân quý tộc, phụ thân của ông là Binh bộ Thượng thư vào thời hoàng đế Càn Long, tương đương với chức bộ trưởng bộ Quốc phòng ngày nay. Ông vô cùng thông minh, còn trẻ đã đậu tiến sĩ, khi đó ông chưa tròn 20 tuổi, nhưng ông đã lấy được học vị cao nhất của quốc gia.

Đối với Phật pháp ông cũng có trình độ rất cao. Tuy rằng ông lấy được học vị tiến sĩ, nhưng không đi làm quan, ông tu hành, làm cư sĩ, tu học, thông tông thông giáo. Ông nói Kinh Vô Lượng Thọ kỳ thực là trung bổn của Kinh Hoa Nghiêm, cách nói này vô cùng chính xác.

Ông đã xem Hoa Nghiêm, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh A Di Đà thành một bộ. Nói cách khác, Hoa Nghiêm là đại bổn của Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ là trung bổn của “Kinh A Di Đà”, hiện tại hầu hết người thọ trì là tiểu bổn Kinh A Di Đà. Kinh văn có dài ngắn không như nhau, nhưng nghĩa lý bên trong thì hoàn toàn là như nhau, Hoa Nghiêm thì nói rất rõ ràng, Kinh A Di Đà thì nói rất đơn giản.

Bình thường làm thời khóa tụng, đương nhiên càng đơn giản càng chuyên tinh thì càng tốt, tiện cho việc thọ trì, nhưng đối với phương pháp cảnh giới lý luận ở trong thì nói càng rõ ràng càng tốt. Hoa Nghiêm chính là nói với chúng ta một cách tường tận, còn Kinh Vô Lượng Thọ thì giảng giải tường tận hơn Kinh A Di Đà, nhưng nói giản lược hơn Kinh Hoa Nghiêm.

Những năm đầu dân quốc, lão cư sĩ Hạ Liên Cư cực lực đề xướng Kinh Đại thừa Vô Lượng Thọ là căn bản y cứ của Tịnh Tông, đồng thời cũng làm một bản hội tập mới cho Kinh Vô Lượng Thọ. Trong lịch sử Trung Quốc, bản hội tập này của Ngài là bộ thứ ba, bản hội tập sớm nhất là bản của cư sĩ Vương Long Thư hội tập thời triều Tống, gọi là “Đại A Di Đà Kinh”. Lần hội tập thứ hai là của cư sĩ Ngụy Mặc Thâm hội tập vào những năm Hàm Phong triều Thanh, gọi là “Ma Ha Vô Lượng Thọ Kinh”. Lão cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập đây là lần thứ ba, tên gọi là “Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh”. Lần sau đều thù thắng hơn lần trước, đến quyển này của Hạ lão thì vô cùng hoàn mỹ và hoàn thiện, hơn nữa không có một khuyết điểm nhỏ nào, có thể nói là bản đại thành của năm loại bản dịch nguyên gốc.

Chúng ta ở trong quyển này nhìn thấy câu, “Hàm cộng tuân tu Phổ Hiền đại sĩ chi đức” (đều cùng tu theo đức hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền), phần phía trước là giới thiệu về đại chúng có mặt, nói rõ mối quan hệ mật thiết giữa Hoa Nghiêm và Tịnh Tông. Cho nên Tịnh Tông có thể nói là thực tiễn của Kinh Hoa Nghiêm, thập Ba-la-mật của Văn Thù Phổ Hiền, thập đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ-tát được thực tiễn tại Tây Phương Cực Lạc thế giới. Do đó, phàm là những vị Pháp Thân Đại Sĩ sanh đến thế giới Hoa Tạng không có vị nào mà không đi theo Văn Thù, Phổ Hiền vãng sanh thế giới Cực Lạc. Đạo lý này cùng với chân tướng sự thật chúng ta phải thông đạt rõ ràng, sau đó mới biết được sự đáng quý của Tịnh Tông.

Pháp môn Tịnh Độ không thể nghĩ bàn, cảm được sự tán thán của mười phương ba đời hết thảy Như Lai. Thích-ca Mâu-ni Phật ở trong Đại kinh có thể nói là đại biểu cho chư Phật Như Lai tán thán A Di Đà Phật là “Quang trung cực tôn, Phật trung chi vương”. Đây không phải là một vị Phật tán thán, mà là tất cả Phật đều tán thán. Chỉ sau khi thông tông thông giáo, đại triệt đại ngộ rồi thì đối với cách nói này của Thế Tôn, đối với cách nói của Đại sư Thiện Đạo mới hoàn toàn khẳng định, nhất định không có hoài nghi gì nữa.

Chúng ta hiểu rõ sự thật này thì phải quyết một lòng, duyên của chúng ta rất thù thắng, đúng như trong Kinh A Di Đà đã nói, “không thể dùng một chút thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh về nước kia”. Chúng ta nghiên cứu giáo lý, giáo lý đạt đến chỗ viên mãn nhất, người xưa gọi là cực trí, đạt đến đỉnh điểm chính là quy kết về Tịnh Tông, chính là khẳng định Tịnh Tông.

Do đây mà thấy, các đại đức Tùy Đường những lời họ nói là không sai. Họ nói Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa được tám tông phái của Đại Thừa công nhận. Nền giáo học viên mãn mà Thế Tôn đã thuyết trong 49 năm chỉ là sự dẫn dắt về Kinh Vô Lượng Thọ mà thôi. Cách nói này là không thể nghĩ bàn.

Kinh Hoa Nghiêm và Pháp Hoa là dẫn dắt đại chúng quy về Kinh Vô Lượng Thọ, dẫn dắt đại chúng cầu sanh Tịnh Độ. Tôi đối với cách nói này của cổ Đại đức là hoàn toàn đồng ý, không có một tơ hào hoài nghi nào, nguyên nhân do đâu? Tôi đích thực là do hai bộ kinh này dẫn dắt nên mới quy y pháp môn Tịnh Độ.

Tôi lúc mới bắt đầu học Phật, khi còn trẻ chưa nhận biết được Tịnh Độ. Tuy là không phản đối, nhưng không thể sanh được ý niệm đối với việc tu Tịnh Độ. Tôi ưa thích kinh luận Đại Thừa, nghiên cứu giảng giải kinh luận Đại Thừa. Tôi đã từng báo cáo qua với các vị, tôi đã giảng Kinh Hoa Nghiêm 17 năm, có một hôm đột nhiên nghĩ đến Văn Thù, Phổ Hiền tu pháp môn gì? Thiện Tài Đồng Tử tu pháp môn gì? Tỉ mỉ lật lại kinh điển xem qua một lần nữa, thì ra họ tu pháp môn niệm Phật.

Tôi cảm thấy vô cùng kinh ngạc, Văn Thù, Phổ Hiền là hậu bổ Phật của thế giới Hoa Tạng, là Đẳng Giác Bồ-tát, là người lãnh đạo của Pháp Thân Đại Sĩ ở thế giới Hoa Tạng, hai vị ấy lại có thể phát tâm cầu sanh thế giới Cực Lạc, thân cận A Di Đà Phật thì làm sao mà không khiến người ta kinh ngạc được. Đây mới là chỗ cần phải nghiên cứu tỉ mỉ của hai bộ đại kinh Hoa Nghiêm và Pháp Hoa.

Từ đó ý niệm quy y Tịnh Tông này của tôi mới sinh khởi ra. Ngày trước Pháp sư Sám Vân đã từng khuyên tôi, lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam cũng khẩn thiết khuyên bảo tôi rất nhiều, tôi đều bán tín bán nghi, rất tôn kính đối với thầy, đối với lời của thầy thì tuyệt đối không có sự phản đối, nhưng trong tâm vẫn say mê ở trong kinh luận Đại Thừa. Tôi ưa thích kinh luận Đại Thừa, cho nên cổ đức nói Hoa Nghiêm, Pháp Hoa là dẫn dắt về Kinh Vô Lượng Thọ, tôi khẳng định là hoàn toàn đồng ý. Tôi nhờ việc này đã dẫn dắt tôi đến với Kinh Vô Lượng Thọ, nhiều năm tu học như vậy, đích thực là được Kinh Vô Lượng Thọ gia trì.

Nói đến tình trạng gia trì, khi các đồng học tiếp cận với tôi, chỉ cần các vị tỉ mỉ thì có thể thể hội được, cũng có thể nhìn thấy được, từ chỗ nào mà nhìn được? Từ trong ngôn hành của tôi mà quan sát, thì các vị có thể thể hội được, bản thân tôi cũng có thể cảm nhận được. Đối với kinh luận Đại Thừa, tôi dần dần từng bước lý giải được thấu triệt, lý giải được sâu, lý giải được rộng, đây là được hết thảy chư Phật Như Lai gia trì, không phải là năng lực của bản thân tôi.

Lời của cổ Đại đức nói là có đạo lý, là chân thật, chúng sanh thế giới Ta-bà phiền não tập khí sâu nặng, nếu không được chư Phật Như Lai gia trì, muốn khai ngộ thì rất khó. Làm sao mới có thể được chư Phật Như Lai gia trì? Tâm hành phải tương ưng, đây là tôi thường hay khuyên nhủ các đồng học, tâm của chư Phật Như Lai gọi là “tâm Bồ-đề”, hạnh của chư Phật Như Lai gọi là Hạnh Bồ-tát.

Thế nào là “tâm Bồ-đề”? Trong Kinh Hoa Nghiêm, mười nguyện của Phổ Hiền Bồ-tát chính là tâm Bồ-đề, mười Ba-la-mật của Văn Thù Bồ-tát chính là hạnh Phổ Hiền, hạnh Bồ-tát. Chúng ta càng đem nội dung chính tinh giản hơn nữa để nói thì đó là: chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi. Đây chính là tâm Bồ-đề. Nhìn thấu, buông xuống, tự tại, tùy duyên, niệm Phật, chính là hạnh Bồ-tát. Mười câu với hai mươi chữ này rất dễ nhớ.

Đặc biệt là ở cái tâm, chúng ta khởi tâm động niệm, cần phải tương ưng với chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi thì bạn đã phát tâm Bồ-đề. Sau khi phát khởi tâm Bồ-đề rồi thì hành vi của bạn tự nhiên sẽ tương ưng với sáu Ba-la-mật, tương ưng với nhìn thấu, buông xuống, tự tại, tùy duyên, sau đó phát tâm cầu sanh Tịnh Độ nhất định được sanh. Pháp Thân Bồ-tát lấy việc cầu sanh Tịnh Độ làm thành sự việc lớn nhất, bởi vì sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc thì sẽ nhanh chóng viên mãn Bồ-đề, chứng Vô Thượng Đạo.

Trích đoạn trong:
THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN
Người giảng: Lão Hòa Thượng – Pháp Sư Tịnh Không
Tập 92

Có thể bạn quan tâm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phật Pháp không có Bản Quyền, mọi sự sao chép từ Pháp Vi Diệu đều được hoan nghênh!