Ý nghĩa của việc tạo tượng Phật Bồ Tát

Có một số bạn đồng học đưa ra câu hỏi về ý nghĩa của việc tạo tượng Phật Bồ Tát, tôi nghĩ vấn đề này rất nhiều người cũng có nghi hoặc như vậy.

Gần đây có một số bạn đồng học đưa ra câu hỏi về ý nghĩa của việc tạo tượng, tôi nghĩ vấn đề này rất nhiều người cũng có nghi hoặc như vậy. Đặc biệt là gần một thế kỷ trở lại đây việc hoằng truyền Phật giáo đã bị suy giảm, quảng đại quần chúng trong xã hội này nảy sinh nghi hoặc đối với Phật giáo, họ ngộ nhận Phật giáo là đa thần giáo, phiếm thần giáo. Phàm là thuộc về dạng này thì đều thuộc về tôn giáo cấp thấp, tôn giáo cấp cao chỉ tôn kính một vị chân Thần. Hình như trong Phật giáo cái gì cũng lễ bái, số lượng yêu ma quỷ quái rất nhiều tạo thành sự hiểu nhầm của rất nhiều người.

Kỳ thực trong Phật giáo không có Thần cũng không có Tiên, Phật giáo là nền giáo dục viên mãn chí thiện của Thích-ca Mâu-ni Phật đối với hết thảy chúng sanh. Vì sao lại có hiện tượng này?

Điều này chúng ta cần phải hiểu là từ xa xưa trước khi Phật giáo xuất hiện thì phương pháp dạy học đã được nghệ thuật hóa. Rất nhiều học thuật của thế gian ngày nay đều xem trọng nghệ thuật, như nghệ thuật của cuộc sống, nghệ thuật giáo dục, nghệ thuật học tập, nghệ thuật thương nghiệp, nghệ thuật công nghiệp, thậm chí ngay đến chiến tranh cũng có nghệ thuật dụng binh.

Thật ra mà nói loại hình giáo học đi theo hướng nghệ thuật hóa sớm nhất chính là giáo dục Phật-đà. Tạo tượng là một dạng trong nghệ thuật, trong Phật pháp không chỉ là tạo tượng mà mỹ thuật, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, ngay đến kiến trúc cũng đều biểu hiện ra cao độ của giáo dục nghệ thuật. Chỉ tiếc là những năm gần đây không có người giảng giải, không có người hiểu được.

Nếu bạn có thể hiểu được thì bạn đối với trí huệ của Thích-ca Mâu-ni Phật, phương thức, phương pháp dạy học của Ngài không thể không khâm phục năm vóc sát đất. Tạo tượng là một trong những phương thức giáo dục đó, cũng là một phương thức quan trọng.

Bình thường khi chúng ta ở nơi công cộng thường xuyên nhìn thấy những câu ngạn ngữ của danh nhân, giáo huấn của các Ngài được viết treo lên ở khu vực đó nhằm nhắc nhở mọi người. Tôi cũng từng viết rồi, có người đến nhờ tôi viết, tôi viết cho họ là “thanh tịnh, bình đẳng, từ bi” hoặc là những câu trên kinh Phật, hoặc là mấy câu ngạn ngữ của Thánh nhân thế gian. Chúng tôi viết rồi treo ở khu vực đó để mọi người vừa nhìn thấy liền có thể nhắc nhở chính mình.

Chúng ta cần học tập theo cổ Thánh tiên Hiền, chúng tôi viết bốn chữ “Từ Bi, Bác Ái”, mọi người nhìn thấy đều rất hoan hỉ. Thế nhưng Phật pháp tiến bộ hơn, đem “Từ Bi, Bác Ái” tạo thành một hình tượng khiến cho bạn càng có cảm giác cụ thể hơn, so với dụng ý của mấy chữ kia còn sâu sắc hơn.

Cho nên nhà Phật dùng Địa Tạng Bồ-tát, tạo dựng hình tượng Địa Tạng Bồ-tát tiêu biểu cho điều gì vậy? Đó là “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng”. Vì vậy Địa Tạng là đại diện cho hiếu thân tôn sư, khiến bạn nhìn thấy hình tượng này liền hiểu được tôi phải học hạnh hiếu của Địa Tạng Bồ-tát, học sự hiếu học của Địa Tạng Bồ-tát, là tôn sư trọng đạo. Đó là ý nghĩa biểu thị của pho tượng đó.

Nếu nói rõ tường tận ý nghĩa này thì đó là một khóa trình, điều đó đại diện cho một khóa trình, khóa trình đó gồm có Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện Kinh, Địa Tạng Thập Luân Kinh, Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo Kinh, chuyên giảng về đề tài này. Khóa trình của kinh điển cần học tập ít nhất trong thời gian nửa năm, nhưng khi bạn vừa nhìn thấy hình tượng này thì trong nội tâm của bạn sẽ tự nhiên nảy sinh toàn bộ nội dung giáo huấn của khóa trình. Cho nên so với việc chúng tôi viết cho người khác mấy chữ thì cảm xúc càng sâu sắc hơn. Đó là ý nghĩa như vậy, đó không phải là Thần, đó là biểu pháp, là đại biểu cho pháp môn này.

Lấy Quán Thế Âm Bồ-tát làm đại biểu cho đại từ đại bi. Từ bi chính là nhân từ bác ái, đem tâm chân thành yêu thương của chúng ta mở rộng đến khắp hư không pháp giới, yêu thương hết thảy chúng sanh như yêu thương chính bản thân mình, “ta và người không hai”. Nói rõ về sự và lý của điều này cũng có ba bộ kinh. Ba bộ Kinh mà Quán Thế Âm Bồ-tát đại biểu không phải là một bộ kinh riêng rẽ mà là một phần bên trong của Đại kinh. Bộ thứ nhất là trong Kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài Đồng Tử tham phỏng Quán Thế Âm Bồ-tát, đoạn kinh văn nói về lời dạy của Quán Thế Âm Bồ-tát dành cho Thiện Tài Đồng Tử trong phẩm “Thiện Tài Đồng Tử năm mươi ba tham” là một đơn vị bộ phận.

Đơn vị thứ hai là quyển thứ sáu trong Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh, Kinh Lăng Nghiêm có mười quyển, trong quyển thứ sáu Quán Thế Âm Bồ-tát báo cáo với Thế Tôn và cũng nói rõ với đại chúng là Ngài làm thế nào tu hành chứng quả, làm thế nào tu tâm từ bi, làm thế nào mở rộng tâm từ bi, yêu thương bảo hộ hết thảy chúng sanh. Bộ kinh thứ ba nằm trong Kinh Pháp Hoa, chính là “Quán Thế Âm Bồ-tát Phổ Môn Phẩm”, phẩm này hoàn toàn tường thuật về tâm từ bi bác ái được thực hiện trong các lĩnh vực khác nhau của xã hội, thực hiện đối với các chủng loài khác nhau, dạy dỗ chúng ta làm thế nào để yêu thương hết thảy chúng sanh, giúp đỡ hết thảy chúng sanh.

Quán Thế Âm Bồ-tát hiện nghìn tay nghìn mắt, kinh nghiệm của chúng ta biết là hai đôi tay của chúng ta rất thuận tiện, nếu có nhiều tay quá sẽ rất không thoải mái. Cho nên nghìn tay nghìn mắt của Quán Thế Âm là biểu pháp, không nên cho rằng Quán Thế Âm Bồ-tát thật sự có một nghìn đôi tay, nếu thế thì bạn hoàn toàn sai rồi. Nghìn tay là biểu thị đôi tay vạn năng, nghìn mắt là biểu thị sự quan sát tinh tế, chúng sanh khổ nạn ở những chỗ cực kỳ nhỏ bé, Ngài đều nhìn thấy rất rõ ràng, mắt thấy tay đến, sau khi nhìn thấy sẽ có sự giúp đỡ, không thể không cứu giúp, ý nghĩa biểu pháp là như vậy.

Chúng ta nhìn thấy hình tượng này thì phải nghĩ đến khi nhìn thấy hết thảy những chúng sanh khổ nạn, chúng ta cần mạnh dạn trợ giúp, như vậy công đức tạo tượng sẽ thù thắng, bất khả tư nghì. Lại như Văn Thù Bồ-tát biểu thị trí huệ, biểu thị lí trí. Cũng là nói hiếu kính, nhân từ, bác ái là lý tánh chứ không phải tình cảm. Tình cảm sẽ sản sinh rất nhiều tệ nạn tật xấu, biểu pháp của Ngài là lý trí, không phải tình cảm.

Người phàm thế gian bị tình cảm chi phối, có sự thay đổi quá lớn. Hôn nhân ngày nay so với thời xưa không giống nhau. Thời xưa tuy sự kết hợp giữa người nam và người nữ là do cha mẹ sắp đặt và do lời mai mối, nhưng sâu xa trong suy nghĩ của cha mẹ không phải là dùng tình cảm để quyết định, mà suy nghĩ đến hạnh phúc của chính bạn, hạnh phúc của gia đình bạn và hạnh phúc của xã hội, cha mẹ suy nghĩ rất chu đáo. Cho nên tỷ lệ ly hôn rất thấp.

Thời xưa rất ít khi nghe đến có việc ly hôn, vì sao vậy? Là do sự kết hợp của lý tánh chứ không phải tình cảm. Người ngày nay là sự kết hợp của tình cảm, không có lý tánh nên có kiểu sáng kết hôn, chiều ly hôn, thế thì thành kiểu gì đây! Bạn hiểu được sự khác biệt giữa tình cảm và lý trí là quá lớn. Cho nên ngày xưa không phải là tình cảm, mà có cùng một nhận thức chung, một phương hướng nỗ lực chung, như vậy kết hợp lại gọi là chí đồng đạo hợp, không phải là tình cảm, có tình cảm thì sẽ có sự biến hóa rất lớn.

Cho nên Đức Phật dạy chúng ta: yêu thương cần dựa vào lý tánh, không phải là sự bốc đồng của tình cảm, Văn Thù Bồ-tát là đại biểu cho điều này. Phổ Hiền Bồ-tát đại biểu cho sự thực hiện, thực tiễn. Cho nên toàn bộ Phật pháp không nằm ngoài việc thực hiện: hiếu thân, tôn sư, nhân từ, bác ái, lý trí vào trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, thực hiện vào trong công việc của bạn, thực hiện vào trong việc xã giao sử xự đối người tiếp vật của bạn. Phật pháp Đại thừa dùng bốn vị đại Bồ-tát này làm đại biểu….

Trích đoạn trong:
THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN
Người giảng: Lão Hòa Thượng – Pháp Sư Tịnh Không
Tập 87

Có thể bạn quan tâm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phật Pháp không có Bản Quyền, mọi sự sao chép từ Pháp Vi Diệu đều được hoan nghênh!